Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Quan hệ Việt - Trung 2011 qua góc nhìn ông Vũ Khoan


Quan hệ Việt - Trung 2011 qua góc nhìn ông Vũ Khoan

Có người không hiểu cho cái đó (giữ cầu đối thoại), có người trái tim nóng nhưng đầu không lạnh, thậm chí một số ít người lợi dụng để kích động, vì những tính toán riêng..., còn công tác tuyên truyền lại không kịp thời. Nên nhìn sự việc một cách thấu đáo, toàn diện chứ cứ trách cứ nhau. Điều đó chỉ có lợi cho những người muốn "tọa sơn quan hổ đấu", đứng xem chúng ta tranh luận, oán trách nhau. - nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan
LTS: Nhân kết thúc một năm với những sự kiện đối ngoại đáng chú ý, mục Gặp gỡ & Đối thoại tuần này xin được giới thiệu cuộc trao đổi của phóng viên Tuần Việt Nam với Cựu Phó Thủ tướng Vũ Khoan xung quanh Năm Đối ngoại 2011.
Ông Vũ Khoan là nhà ngoại giao hiếm hoi tham gia quá trình bình thường hoá và phát triển quan hệ của Việt Nam với cả Trung Quốc, Mỹ và ASEAN - ba nội dung chính của cuộc trao đổi này.
Quan trọng hơn, ông là một trong số không nhiều những vị lãnh đạo đã nghỉ hưu mà vẫn dõi theo những tiến triển của thời cuộc, và đưa ra cho những người kế nhiệm, nhất là trong lĩnh vực đối ngoại, những gợi mở quan trọng cho công tác hoạch định chính sách. Hay như nhận xét của một quan chức ngoại giao đã tham dự Hội nghị Ngoại giao vừa rồi tại Hà Nội, ông là một "forward thinker".
Cam kết bằng giấy trắng mực đen
Theo đánh giá của ông, sự kiện đối ngoại nào của Việt Nam được coi là quan trọng?
Năm vừa rồi, mặc dầu ta tổ chức Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội song hoạt động đối ngoại vẫn rất sôi động. Xét về trao đổi cấp cao thì nhiều đoàn đã đến thăm nước ta và cũng không ít đoàn cấp cao của nước ta đi thăm nước ngoài. Mỗi đoàn đều có ý nghĩa riêng.
Song, theo tôi, sự kiện đáng chú ý nhất trong năm là việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đi thăm Trung Quốc.
Tại sao, thưa ông?
Kết quả mấu chốt của chuyến thăm là hai bên đã thỏa thuận và ký bản Thoả thuận 6 điểm về những nguyên tắc chỉ đạo cuộc đàm phán về những vấn đề trên biển.
Nếu ta nhớ lại năm 2010, tình hình trên Biển Đông khá căng thẳng. Với cái thoả thuận này, dù sao đi nữa cuộc tranh chấp cũng đã được đưa vào kênh đàm phán. Mà đàm phán bao giờ cũng tốt hơn là xung đột, nó có lợi cho Việt Nam, có lợi cho Trung Quốc, có lợi cho khu vực.
Trong thời đại ngày nay, bất cứ vấn đề gì cũng nên tìm mọi cách giải quyết thông qua thương lượng.
Một vấn đề phức tạp như tranh chấp trên Biển Đông đã được đưa vào kênh thương lượng là điều đáng ghi nhận.
Tổng bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng duyệt đội danh dự. Ảnh: Reuters
Tại sao ngay sau khi hai bên thoả thuận, lại đã gây ra một số hiểu lầm trong khu vực. Chẳng hạn, Philippines lên tiếng đòi giải thích. Liệu có phải do cách diễn giải có chủ ý của truyền thông Trung Quốc, chẳng hạn như CCTV4, nói rằng Trung Quốc và Việt Nam thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng đàm phán song phương?
Đây là sự xuyên tạc thôi. Trong thoả thuận 6 điểm đã nói rõ cái gì liên quan đến song phương thì giải quyết song phương, còn cái gì liên quan tới nhiều bên thì giải quyết với các bên liên quan.
Đó là vấn đề nguyên tắc và chúng ta luôn kiên trì ngay từ đầu, và cuối cùng đã được đưa vào văn bản, được cam kết bằng giấy trắng mực đen đàng hoàng, chứ không phải nói miệng, và được ký trước sự chứng kiến của lãnh đạo cấp cao nhất của hai nước.
Theo tôi được biết, sau chuyến thăm ta đã thông báo rõ ràng cho các nước hữu quan. Là một nước đã từng bị thiên hạ dàn xếp sau lưng những vấn đề của mình không phải một lần, chúng ta không bao giờ chấp nhận việc bàn thảo sau lưng các nước khác những vấn đề liên quan tới họ.
Trước đây, (tất nhiên gần đây có gián đoạn) cứ năm nay lãnh đạo cao cấp Việt Nam sang thăm, thì sang năm sau lãnh đạo cấp cao Trung Quốc sang thăm lại. Tại sao TBT Nguyễn Phú Trọng vừa thăm Trung Quốc vào tháng 9.2011, thì đến tháng 12.2011, Trung Quốc lại cử ngay ông Tập Cận Bình - người được coi là sẽ kế nhiệm chức vụ đứng đầu Đảng và Nhà nước, sang thăm Việt Nam?
Thường xuyên gặp cấp cao đã trở thành truyền thống, không chỉ giữa hai nước Việt - Trung mà là giữa nhiều nước trên thế giới. Dù sao đi nữa những cuộc gặp như vậy là dịp các nhà lãnh đạo cao nhất trao đổi ý kiến, vạch ra phương hướng và biện pháp lớn phát triển quan hệ, đồng thời trang trải khúc mắc, nếu có.
Các cuộc gập cấp cao giữa ta và Trung Quốc cũng nằm trong thông lệ đó. Giữa lúc quan hệ có trục trặc thì những cuộc trao đổi như vậy càng cần thiết.
Quan hệ giữa hai nước có lịch sử rất lâu dài và không đơn giản, lúc thăng lúc trầm. Trong khi mọi chuyện diễn ra phức tạp, chúng ta càng nên bình tĩnh, tỉnh táo theo phương châm "trái tim phải nóng, nhưng đầu phải rất lạnh".
Với cái đầu lạnh và với truyền thống nghĩa tình trọn vẹn, chúng ta không quên sự giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc trước đây trong các cuộc kháng chiến cứu nước, đồng thời cũng nên thấy rằng, kể từ khi bình thường hóa quan hệ tới nay về tổng thế mối quan hệ giữa hai nước đã phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, những vấn đề hắc búa như biên giới trên bộ, phân định vịnh Bắc bộ đã được giải quyết. Điều này có lợi cho môi trường quốc tế của nước ta, có lợi cho vị thế của ta.
Chỉ còn vấn đề biển Đông, ta cần nỗ lực giải quyết thông qua thương lượng ngoại giao. Thực ra chuyện này không mới, nó tồn tại từ lâu và đã từng nổ ra xung đột quân sự năm 1974, 1988..., sau đó không ít lần xẩy ra căng thẳng. Chẳng thế mà ASEAN có tuyên bố năm 1992 mà ta cũng tham gia (lúc đó mới là quan sát viên), rồi DOC giữa ASEAN và Trung Quốc...
Nhưng liệu người Việt Nam có thực sự là người mau quên ơn không, khi tình nghĩa với người Nga ngày xưa vẫn được giữ gìn khá trọn vẹn? Buổi gặp gỡ thầy trò Nga - Việt đầu năm ngoái,  mà ông đã tham dự, chẳng hạn, đã thể hiện phần nào điều đó.
Hay là do, như có người nhận xét (nhà sử học Dương Trung Quốc) rằng chúng ta chưa được sòng phẳng lắm với lịch sử, cả lúc thăng và lúc trầm trong quan hệ?
Tôi không biết anh Dương Trung Quốc nói thế nào và có ý gì. Nhưng, cũng với cái đầu lạnh, ta cũng phải thừa nhận một thực tế nữa là trong quan hệ giữa hai nước từ giữa những năm '70 của thế kỷ trước đã xấu đi và năm 1979 đã xẩy ra chiến tranh biên giới. Đó là một thực tế.
Chỉ có điều mình chủ trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai như mình cũng đã từng ứng xử như vậy với Pháp, với Mỹ, với Nhật, Hàn quốc.... Khổ nỗi nước ta bị nhiều nước xâm lấn quá, cứ nuôi hận thù trong tim thì làm sao sống được?
Tuy nhiên, những chuyện lịch sử như vậy không dễ gì xóa hết, nhất là lúc này lúc khác lại nẩy sinh phức tạp gợi lại nỗi niềm quá khứ. Do vậy ta mong các nước "có vấn đề" với ta tránh để xẩy ra những việc gợi lại quá khứ mà làm mọi việc vì tương lai hợp tác hữu nghị bình đẳng.
Liên quan đến tranh chấp Biển Đông, có ý kiến cho rằng nói đến (tranh chấp) Biển Đông là nói đến (tranh chấp) hai quần đảo. Trong khi đó, nhiều ý kiến cho rằng vấn đề vùng nước mới là điều đáng lưu tâm, ít nhất là trước mắt. Ý kiến của ông?
Có ba câu chuyện ở Biển Đông và chúng đều quan trọng cả.
Thứ nhất là Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, người mình đã ở đó bao nhiêu năm rồi, nhưng bây giờ không còn trong tay mình nữa.
Thứ hai là Trường Sa, mình đã hiện diện từ trước ở đó rồi, nhưng đến năm 1988 lại xảy ra cuộc đánh chiếm một số điểm thuộc quần đảo này.
Thứ ba là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình đúng theo luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển năm 1982 mà cả mình và Trung Quốc đều đặt bút ký, nhưng Trung Quốc đã khoanh thành cái lưỡi bò choán vào khá sâu, kể cả vùng thuộc các nước khác theo luật quốc tế.
Chuyện chủ quyền lãnh thổ chẳng có gì ít quan trọng cả.
Tôi vẫn nói với phía Trung Quốc là xử lý nó phải có lý, có tình. Tình ở đây là tình hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đèn có nhau. Còn cái lý là luật pháp quốc tế, nhất là Luật biển 1982. Hai nước có quan điểm khác nhau mà không lấy một cái chuẩn chung làm thước đo thì làm sao được? Cái thước đo duy nhất là luật pháp quốc tế thôi - tức là Công ước Quốc tế về Luật Biển.
Anh cũng ký, tôi cũng ký, đều là thành viên rồi. Cứ lấy chuẩn đó mà "cò cưa" với nhau để làm rõ trắng đen, phải trái.
Có một thực tế là ở Việt Nam, và cả ở Trung Quốc, đều có một xu thế đề cao chủ nghĩa dân tộc dường như hơi thái quá. Vậy, theo quan điểm của ông, chúng ta nên giải quyết như thế nào?
Chẳng hạn, nói về thông tin. Tôi có cảm giác, có thể là sai, rằng giữa người lãnh đạo với người dân dường như chưa có sự tin tưởng lẫn nhau. Dân thì cũng nghi hoặc chuyện nọ chuyện kia, còn lãnh đạo thì dường như chưa hẳn đã tin dân?
Cũng không phải thế. Bảo lãnh đạo không tin dân thì tin ai, làm sao lãnh đạo, điều hành đất nước  được? Làm gì có chuyện đó, nói thế thì "oan" quá. Lãnh đạo mà có được người dân nhiệt tình yêu nước thì còn gì hơn!
Chỉ có điều cách thể hiện lòng yêu nước sao cho có lợi nhất cho đất nước. Những người thể hiện lòng yêu nước cao đẹp nhất là các chiến sỹ ở hải đảo không quản ngại gian nan, giữ vững chủ quyền.
Tôi vô cùng khâm phục họ, nhất là các chiến sỹ ở những điểm DK nhỏ xíu giữa biển khơi mênh mông, sóng bão bịt bùng mà vẫn kiên định. Tôi cứ trộm nghĩ phong tặng danh hiệu Anh hùng cho tất cả những người đó cũng xứng đáng!
Còn một chuyện khác cũng cần có sự thông hiểu.Thực ra, trong quan hệ đối ngoại có cái khó là không phải mọi chuyện đều có thể lên truyền hình bảo rằng chúng ta đánh giá (thực chất) thế này, chủ trương thế kia. Làm sao làm thế được! Nói một cách dân dã thì làm sao hành động theo kiểu "thưa ông tôi ở bụi này" được?
Còn làm thế nào để người dân hiểu rõ vấn đề thì có nhiều cách, nhưng chưa được sử dụng kịp thời, sâu rộng.
Đặc điểm của đối ngoại là có những chuyện phải giữ kín chứ không phải là dát, hay sợ đâu. Vấn đề là phải khôn. Đừng lẫn lộn cái khôn với cái sợ. Không phải với Trung Quốc đâu, với nước nào cũng vậy.
Do đó cũng phải hiểu cho cái người lãnh đạo, người ta phải giữ cái gì đó để còn có chỗ nói chuyện, chứ cắt cầu thì rất dễ. Bởi muốn gì thì gì mình vẫn phải cố gắng giải quyết bằng đối thoại, nên phải giữ cầu đối thoại chứ.
Có người không hiểu cho cái đó, có người trái tim nóng nhưng đầu không lạnh. Thậm chí một số ít người lợi dụng để kích động, vì những tính toán riêng... Còn công tác tuyên truyền lại không kịp thời.
Do vậy, nên nhìn sự việc một cách thấu đáo, toàn diện chứ cứ trách cứ nhau. Điều đó chỉ có lợi cho những người muốn "tọa sơn quan hổ đấu", đứng xem chúng ta tranh luận, oán trách nhau.
Vâng, quả là một phần cũng một phần do lỗi của những phóng viên như chúng tôi. Nhiều khi chuyện chẳng có gì mà một số báo chí ở Trung Quốc, hay đâu đấy, lại đưa tin theo hướng lệch đi, hoặc theo kiểu mập mờ, có lợi cho phía họ, thế mà anh em chúng tôi lại không kịp thời cải chính lại cho mọi người hiểu.
Sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí và cơ quan quản lý báo chí cũng chưa được nhịp nhàng, nên đúng là ta thường thông tin chậm hơn họ. Tôi cũng đã không ít lần góp ý kiến rồi.
Vả lại, ta nên tỏ ra đàng hoàng, chẳng nên để bị khiêu khích. Hơn nữa, rất nên tránh vơ đũa cả nắm, gây hận thù dân tộc vì nhân dân là nhân dân.
Trong công tác tuyên truyền, đấu tranh dư luận, phải rất nhanh nhạy, phân biệt phải trái. Ngay khi chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, ta cũng luôn phân biệt giới cầm quyền và nhân dân cơ mà.
Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia về Đông Nam Á và Biển Đông, cũng từng nhận xét rằng việc chậm trễ cung cấp thông tin chính thức và chính xác sẽ tạo cơ hội cho những suy đoán, tin đồn lan ra trong dư luận.
Đúng vậy. Các loại tin đồn thất thiệt cứ thế mà chen vào thôi. Anh không chiếm chỗ trước, thì người khác người ta chiếm thôi.
Khôn khéo tận dụng vị thế ASEAN
Thường tâm lý của mấy ông nước lớn là thường muốn bắt nạt mấy anh nhỏ, lẻ, và trong câu chuyện lãnh thổ và kinh doanh là rõ nhất.  Quay lại câu chuyện tranh chấp Biển Đông, nhưng mà mấy anh nhỏ đó không còn lẻ nữa, mà cùng nhau góp tiếng nói cho đàng hoàng, chắc ông lớn kia cũng phải hạ giọng.
Thế giới bây giờ là tuỳ thuộc lẫn nhau, chứ không phải là lớn với nhỏ đâu. Tất nhiên anh lớn có tư duy của anh lớn, cách hành xử của anh lớn. Nhưng anh chả sống một mình được, anh vẫn phải đối xử với những anh lớn khác. Mà muốn thế phải có bạn.
Như vậy, cái mạnh của anh nhỏ là có thể trở thành đối trọng trong quan hệ của các nước lớn. ASEAN đâu phải là đối trọng nhỏ. Cũng hơn 500 triệu dân, cũng là một khu vực phát triển kinh tế năng động, cũng có uy tín quốc tế lớn.
Nguyên Phó Thủ tướng  Vũ Khoan
Có tổ chức khu vực nào mà  cả gần chục nguyên thủ các nước lớn phải xách cặp đến họp không, trừ ASEAN? Liên đoàn Ả Rập, hay Mecosur ở Mỹ La tinh có chuyện đó không? Thậm chí là EU cũng làm gì có chuyện mỗi lần họp là Tổng thống Nga, hay Chủ tịch Trung Quốc phải sang.
Trên bàn cờ quốc tế, trong các mối quan hệ giao lưu, họ cần có bạn đồng hành. Và các nước nhỏ có vai trò đó, nếu anh biết ứng khôn khéo. Và ASEAN là một điển hình.
Về vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông, tuy là lâu dài, thậm chí rất lâu dài, nhưng vẫn phải có cái hướng đi từ đầu để vượt qua chặng đường dài đó để đến cái đích cuối cùng. Trong ASEAN chỉ những quốc gia biển là hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, dính dáng đến tranh chấp, chứ còn mấy quốc gia đất liền thì không có lợi ích gì.
Ông nhìn nhận gì trong sự gắn kết gần đây giữa họ, chẳng hạn như giữa Việt Nam với Malaysia, hay gần đây là Việt Nam với Philippines, trong lập trường giải quyết tranh chấp Biển Đông?
Trong quan hệ quốc tế lợi ích là quan trọng nhất. Trong điều kiện khách quan, các nước ASEAN buộc phải chia sẻ lợi ích với nhau. Mặc dù, trên vấn đề này thì nhóm nước này có lợi ích này, nhóm khác có lợi ích khác. Nhưng lợi ích lồng ghép nhau chứ không rành rọt như cái bánh cắt được.
Như vậy, không thể nói chỉ có trên Biển Đông mới thể hiện lợi ích đâu. Còn bao nhiêu lợi ích nhằng nhịt khác nữa. Biển Đông chỉ là một khía cạnh của quan hệ ASEAN thôi.
Ý tôi muốn hỏi là trong mỗi lợi ích mình phải tìm những người bạn, những người cùng có lợi ích với mình, khi nói tới các mối quan hệ của Việt Nam với các quốc gia khác trong ASEAN.
Mình có lợi ích của mình thì cũng đừng bắt người ta bỏ lợi ích của người ta. Phải biết người biết ta, chứ chỉ biết ta, thì không có quan hệ quốc tế.
Cuối năm ngoái, một quan chức phụ trách ASEAN của Bộ Ngoại giao, có nói với tôi rằng cái nét mới của năm ASEAN 2010 so với những năm trước đó là bình thường hoá khái nhạy cảm. Tức là vấn đề tranh chấp Biển Đông được đưa ra bàn thảo các hội nghị lớn như Thượng đỉnh ASEAN, Diễn đàn An ninh Khu vực (ARF), hay Thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc...
Trước đó, khi đưa vấn đề Biển Đông ở những diễn đàn như vậy, có cảm giác là mình thấy nó nặng nề, nhạy cảm thế nào đó...
Cũng không hẳn đâu. Thời tôi làm cũng đã vật lộn với vấn đề Biển Đông bao nhiêu lâu rồi, chứ có phải không đặt lên bàn quốc tế đâu.
Năm 1995, khi mình vào ASEAN đúng lúc ARF ra đời, nên tôi đã dự ARF ngay từ đầu. Câu chuyện Biển Đông cũng đã được đặt lên bàn rồi. Năm nào cũng bàn để từ đó dẫn đến DOC năm 2002.
Còn khi có tuyên bố Manila năm 1992, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm tham dự với tư cách quan sát viên đã tuyên bố ủng hộ.
Có lẽ lúc đó mình là chủ nhà của ARF và các hội nghị cấp cao nên câu chuyện được nhấn mạnh đặc biệt, đúng không ạ?
Đúng vậy. Chứ mình lẽo đẽo vấn đề Biển Đông từ lâu rồi, vì nó là một vấn đề có thể gây mất ổn định trong khu vực.
Thế còn câu chuyện trùng lặp về thời gian giữa chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Trung Quốc để đạt thoả thuận 6 điểm về nguyên tắc giải quyết tranh chấp, và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Ấn Độ, mời họ vào hợp tác thăm dò khai thác dầu khí ở Biển Đông, hay hợp tác quốc phòng. Trong khi đó, Trung Quốc nói gần nói xa nọ kia, ông đánh giá thế nào?
Điều đó có được coi là bình thường hoá khái niệm nhạy cảm không?
(Bật cười) Theo tôi hiểu, chuyện sắp xếp qua kênh ngoại giao là hoàn toàn ngẫu nhiên thôi, chứ có phải mình bầy binh bố trận gì đâu. Ầm ỹ là do suy diễn thôi.
Mình hiểu rõ chẳng ai muốn làm "con bài" của ai, và mình cũng không chủ trương đi với bên này chống bên kia.Trong đối ngoại, anh làm cái gì "phô" quá cũng không được đâu, người ta cười cho. Phải nhớ rằng không chỉ  có mình là "khôn" đâu.
(Còn nữa...)

Khi bà tiến sĩ Hội phụ nữ Việt Nam ca bài ca luân lý


Khi bà tiến sĩ Hội phụ nữ Việt Nam ca bài ca luân lý

Người cùng kh (danlambao) - “Ở bất cứ xã hội nào, phụ nữ làm nghề mại dâm đều bị coi là loại người xấu xa, mạt hạng…bị xã hội, gia đình, người thân coi khinh, dư luận xã hội lên án... Gái bán dâm sẽ không biết xấu hổ khi cần tiền...” - đồng chí tiến sĩ chủ tịch Hội Phụ nữ Nguyễn Thị Mai Hoa.

*

Mới đây báo chí đưa tin tại Hội nghị tập huấn về công tác phòng chống tệ nạn mại dâm được tổ chức tại Hà Nội, bà tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hoa, phó trưởng Ban Tuyên giáo thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã phát biểu trước báo giới nêu rõ quan điểm của mình về tệ nạn mại dâm. 


“Tinh thần” chung trong bài phát biểu của bà tiến sĩ Hoa là cực lực lên án các cô gái bán dâm, xem đó là hình ảnh mang lại nỗi nhục quốc thể, là nguyên nhân dẫn đến đất nước suy nhược: “Mại dâm là nguyên nhân trực tiếp làm suy thoái đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, làm xấu đi hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Mại dâm vẫn là rào cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây bất ổn về trật tự chính trị - xã hội”. 

Đi xa hơn nữa bà Phó ban tuyên giáo của Hội đã “nâng quan điểm” và mạt sát những phụ nữ bán dâm thật thậm tệ. “Ở bất cứ xã hội nào, phụ nữ làm nghề mại dâm đều bị coi là loại người xấu xa, mạt hạng…bị xã hội, gia đình, người thân coi khinh, dư luận xã hội lên án”. 

Và cuối cùng bà đã có câu kết luận thật chua chát và cay nghiệt: “Gái bán dâm sẽ không biết xấu hổ khi cần tiền”. 

Thưa bà. Tôi không hiểu bà ở trong tổ chức cao nhất của Hội phụ nữ để làm gì khi mà bà không hề có một lời chia sẻ, cảm thông với những cô gái bán dâm, thay vào đó bao nhiêu tội lỗi, bao nhiêu lời cay độc bà đều đổ lên đầu họ. Bà có biết hầu hết các cô gái bán dâm đều từng mơ ước được học hành lên đến học vị tiến sĩ như bà, được ngồi vào cái ghế phó ban tuyên giáo của hội phụ nữ quốc gia (và sẽ còn tiến xa hơn nữa) như bà hay không? Và có biết bao cô gái muốn thoát ra con đường đó mà nào có được. Tại sao cùng phận nữ nhi má hồng mà bà lại không hề có chút chạnh lòng, thương cảm cho hoàn cảnh của họ. 

Tôi nghĩ họ đâu đủ tầm và đủ sức để có thể là suy thoái đạo đức của dân tộc, làm mất đi hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Và họ cũng không có đủ thâm độc, nguy hiểm như “các thế lực thù địch” để có thể làm “rào cản” đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, gây “bất ổn” về trật tự chính trị - xã hội. Nếu như nói theo khẩu khí của bà thì chính gái mại dâm đã làm cho đất nước này kiệt quệ, đạo dức xã hội xuống cấp, gây nên bất ổn chính trị - xã hội… Sao đất nước tươi đẹp và giàu mạnh của chúng ta có Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ lại có thể mong manh dễ vở đến như vậy. Sao những con điếm xấu xa, mạt hạng như bà nói lại có thể làm được cái chuyện còn ghê gớm hơn đế quốc phản động! 

Gái bán dâm không phải ai cũng thích ăn diện, lười lao động như bà nói mà phần đông trong số họ là do hoàn cảnh đưa đẩy, số phận không sắp đặt cho họ có một cuộc sống bình lặng, êm ấm. Bà nghĩ họ sung sướng lắm hay sao khi phải từ bỏ ước mơ được học hành, được vui chơi, có người yêu thương mình và có một mái ấm gia đình. Phần đông các cô gái bước chân vào cái nghề này không phải vì bản thân họ mà vì hoàn cảnh gia đình. Bà có biết những đồng tiền mà họ kiếm được sẽ giúp cha mẹ già đau ốm ở quê nghèo sống qua ngày, cho các em ăn học để nuôi niềm mơ ước sẽ không đi lại theo con đường của họ. Chắc bà chưa bao giờ phải chạnh lòng khi thấy các cô gái bán hoa khi ra bưu điện gửi tiền về cho gia đình mà không biết viết. Có cô gái bị bắt vào trại phục hồi nhân phẩm còn nhắn lại với bảo kê, tú bà hàng tháng cứ gửi dùm tiền về cho cha mẹ rồi mai mốt ra trại làm lại trả nợ… Rồi có những phụ nữ đã bước sang tuổi 40 – 50 vẫn phải đi bán dâm hàng đêm, họ đâu còn đủ sức để mà đua đòi ăn diện chẳng qua là vì đói nghèo. 

Nói cho công tâm, trong bài phát biểu của mình bà cũng chỉ ra hoàn cảnh đã đưa đẩy họ vào con đường này: “Nông dân thiếu ruộng sản xuất do bị thu hồi, công nhân thiếu việc làm do ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới cộng với tình hình di dân tự do phát triển nên tình hình tệ nạn mại dâm nói riêng diễn biến phức tạp và tiềm ẩn phức tạp”. Hì hì đúng là giọng điệu của dân tuyên giáo. Diễn biến phức tạp và tiềm ẩn phức tạp là cái giống gì? Sao bà không nói huỵch toẹt là dạo này ở quê không có đất làm ruộng, ở thành thị thì không có việc làm nên người ta đổ xô đi làm đĩ và số lượng đĩ năm tới sẽ cao hơn cùng kỳ năm nay. 

Bà có đau lòng hay không khi báo đưa tin “Gần 70 cô gái chen chân dự tuyển lấy chồng Hàn Quốc, “126 cô gái VN bị rao bán như hàng hóa ở Malaysia”… Bà có biết khi bước chân vào nghề này họ đã chấp nhận mọi đắng cay, bị hành hạ đánh đập, bóc lột như nô lệ. Rồi hàng ngàn cô gái bị bán sang nước ngoài làm điếm chịu bao đọa đày tủi nhục. Rồi hàng vạn cô dâu Việt bán thân sang xứ người với chuỗi ngày đầy nước mắt, trong đó có người bị chồng đánh đập cho đến chết, có người không chịu nỗi cảnh sống địa ngục đã phải nhảy lầu tự tử. 

Sao lúc đó chẳng thấy Hội phụ nữ của bà đâu cả, sao không thấy bà hiệu triệu chị em phụ nữ xuống đường vạch mặt bọn đầu gấu, tú bà, bọn buôn người bất nhân. Chắc lúc đó bà đang bận đăng đàn chưởi gái mại dâm. 

Về câu nói gái mại dâm “Làm xấu đi hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt Nam” tôi thấy bà đã hơi quá lời rồi đó. Người nước ngoài, nhất là báo chí nước ngoài khi nhìn nhận, đánh giá về nạn mãi dâm ở VN họ không hề đổ lỗi hoặc coi thường người phụ nữ mà thay vào đó là sự cảm thông, chia sẻ. Họ không lên án gái bán dâm mà mổ xẻ tìm ra nguyên nhân nào đã đưa đẩy người phụ nữ vào con đường này và tìm ra lối thoát cho họ. Đó chính là cách nhìn “biện chứng” và nhân văn chứ không quy chụp, miệt thị như bà. Ở bất cứ đất nước văn minh nào trên thế giới đều có phố đèn đỏ nhưng chẳng ai xem thường, có cái nhìn xấu về hình ảnh người phụ nữ ở những đất nước đó cả. Cũng như nghề mại dâm ở VN đã có từ thời xa xưa (có một thời ta đã ngộ nhận “là tàn dư của chế độ cũ”) và đến nay nó đã tiếp tục phát triển như một quy luật tất yếu của xã hội loài người. Và chính vì vậy mà hình ảnh người phụ nữ Việt Nam chẳng xấu hoặc tốt hơn lên vì nghề mại dâm cả. 

Bà nói “Gái bán dâm sẽ không biết xấu hổ khi cần tiền” đúng nhưng chưa đủ. Nếu cần tiền thì không riêng gì gái mại dâm mà hầu hết mọi người đều không biết xấu hổ. Nếu cần tiền để chữa chạy cho con đang nằm viện thì thằng đực rựa vừa xấu vừa già như tôi cũng sẵn sàng bán dâm (nếu có người mua) mà không biết xấu hổ. Chỉ đáng khinh là có người đã có quyền, có tiền mà vẫn làm điều đáng hổ thẹn như chạy chức chạy quyền, chạy bằng cấp, dối trên gạc dưới, vơ vét, tham ô, sống vô cảm với đồng bào, có khi đi lên bằng chính thân xác của mình. Thưa bà chính những người như thế mới làm xấu đi hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam đó. 

Tất nhiên trong bất cứ xã hội từ cổ chí kim nào thì không ai cổ súy, ca ngợi cho cái nghề bán dâm, nhưng để mà đánh giá họ là xấu xa, mạt hạng, bị coi khinh, lên án như bà thì thật là kinh quá. Trong khi Quốc Hội đang bàn thảo có nên xem mại dâm là một nghề và mới đây bà Lê Thị Hà, Phó cục trưởng cục tệ nạn xã hội phát biểu rất nhân bản: “Vì nhiều hoàn cảnh xô đẩy mà phụ nữ phải bước vào con đường mại dâm nên phải giúp đỡ để họ tiếp cận các dịch vụ xã hội, giúp họ bớt bị tổn thương” thì bà đã lại có những phát ngôn ấn tượng quá. 

Viết đến đây tôi lại nhớ đến bài hát “Nhăng nhố” của nhạc sĩ Trần Tiến. Bài hát mà nếu ai nghe qua dù sắt đá, cay nghiệt lắm cũng phải mềm lòng. “Để mai em lấy được anh chồng hiền. Thì ta sẽ đến tặng em thật nhiều. Nhiều bông hoa trắng… triệu bông hoa trắng. Để em lên xe hoa, hoa trắng giăng đầy. Em hết những ngày lang thang.” 

Nếu không yêu thương được thì xin bà đừng rẻ rúng làm tổn thương họ.

Thư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gởi Tổng Thống Richard Nixon trong biến cố Hoàng Sa tháng 1-1974.


Thư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gởi Tổng Thống Richard Nixon trong biến cố Hoàng Sa tháng 1-1974.

Sơn Hà sưu tầm và lược dịch
Lời mở đầu: Trận hải chiến Hoàng Sa đã đi vào lịch sử nước Việt như là một trận chiến chống giặc ngoại xâm Trung Hoa đã ngang nhiên mang quân xâm chiếm cõi bờ thiêng liêng do cha ông chúng ta gìn giữ từ ngàn xưa truyền lại.
Trận hải chiến này đã làm chấn động các quốc gia trong vùng Đông Nam Á và đã khiến dư luận khắp thế giới xôn xao. Ngoài ra cũng qua biến cố này sự rạn nứt giữa Trung Cộng và Nga Sô đã lộ rõ qua việc Nga Sô lên tiếng chỉ trích hành vi xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Trung Cộng.
Giá trị lịch sử và tầm mức quan trọng của biến cố này còn được thể hiện qua sự kiện Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã gởi thư riêng đến Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon để yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ “…hết lòng hỗ trợ về vật chất và chánh trị cần thiết…”
Bức thơ này đề ngày 22-1-1974 và do ông Kỳ, Phụ Tá Đặc Biệt Chánh Trị của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc mang đến Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ trưa ngày 23 tháng 1 năm 1974 và đã được chuyển về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào lúc 6 giờ chiều.
Thay vì viết phúc thư trực tiếp đến Tổng Thống Thiệu, Tổng Thống Nixon đã gởi điện văn cho Đại Sứ Martin khoảng 3 tuần sau đó và chỉ thị ông đến gặp thẳng Tổng Thống Thiệu để diễn đạt lại nội dung của bản phúc đáp.
Dưới đây là bản dịch từ điện thư mật mang số 1035 của Đại Sứ Martin gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
Kính gởi : Ngài Richard Nixon Tổng Thống Koa-Kỳ
Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C.
Kính thưa Tổng Thống,
Tôi mong Tổng Thống lưu tâm đến tình trạng nghiêm trọng hiện nay gây nên bởi hành động quân sự của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trong vùng quần đảo Hoàng Sa ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam.
Việc tôi tiếp xúc trực tiếp với Tổng Thống trong cách thức khẩn cấp này phản ảnh sự quan tâm lớn lao của tôi trước những biến chuyển gần đây ở nơi ấy.
Tôi tin Tổng Thống nhận thức rõ những hành động chiến tranh Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gây ra ở quần đảo Hoàng Sa là sự vi phạm trắng trợn chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của VNCH. Chủ quyền của quốc gia chúng tôi trên những hòn đảo này được dựa trên lịch sử, điạ lý và những căn bản pháp lý cũng như dựa trên sự kiện VNCH từ lâu đã thực thi việc cai quản một cách hữu hiệu trên những đảo này.
Ngày 11 tháng 1 năm 1974 Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã đưa ra bản tuyên cáo đòi hỏi chủ quyền trên quần đảo này, và Bộ Ngoại Giao của chúng tôi đã lập tức bác bỏ luận điệu vô căn cứ của họ.
Hàng trước từ trái, TT Nguyễn Văn Thiệu, TT Hoa Kỳ Lyndon B Johnson, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cùng chào cờ tại Sàigòn. Life magazine
Tiếp theo yêu sách ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã dùng vũ lực để chiếm một phần lãnh thổ quốc gia chúng tôi. Họ đã đưa binh sĩ và chiến hạm vào trong khu vực các đảo Cam Tuyền ,Quang Hòa và Duy Mộng thuộc quần đảo Hoàng Sa và đã đổ bộ quân lính lên các đảo này.
Để đối phó với các hành động gây chiến và để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia của VNCH, lực lượng Hải quân Việt Nam hiện diện trong vùng đã ra lịnh cho lực lượng xâm nhập rút ra khỏi vùng.
Thay vì tuân lệnh, các chiến hạm Trung Cộng từ ngày 18 tháng 1 năm 1974 đã chọn thái độ gây hấn với lối vận chuyển khiêu khích và đã tác xạ vào các toán lính và các đơn vị Hải Quân đưa đến sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất.
Ngày 20 tháng 1 năm 1974 Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gia tăng mức độ chiến tranh. Họ đưa phi cơ vào oanh tạc 3 đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Hoàng Sa, trên các đảo này có quân của VNCH trú đóng và ngoài ra họ cũng đã đổ bộ quân lính để chiếm đoạt những đảo này.
Sự gây hấn hiện tại đối với VNCH không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của VNCH mà còn tạo nên mối hiểm họa cho nền hòa bình và sự ổn định trong vùng Đông Nam Á .Điều này hoàn toàn đi ngược lại văn tự và tinh thần của Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải.
Bằng cách công khai xử dụng vũ lực để xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, Trung Cộng đã ngang nhiên vi phạm luật quốc tế, hiến chương Liên Hiệp Quốc, hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 mà họ đã cam kết tôn trọng và chứng thư sau cùng ngày 2 tháng 3 năm 1973 của hội nghị thế giới về Việt Nam mà Trung Cộng là một nước ký tên vào. Trên thực tế, điều khoản 1 của hiệp định Paris và điều khoản 4 của chứng thư sau cùng đã là một sự giao ước cho tất cả các nước, nhất là cho các nước ký vào chứng thư là phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ cuả Việt Nam.
Sự đe dọa nghiêm trọng đến nền hòa bình đang diễn ra và chỉ có thể tránh khỏi nếu Trung Cộng bị bắt buộc chấm dứt vai trò của kẻ xâm lược và hành động hiếu chiến đối với VNCH.
Sự lấn chiếm lãnh thổ VNCH của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không những vi phạm trắng trợn luật pháp và trật tự quốc tế mà còn tạo nên nghi ngờ về sự hiệu lực của hai thành quả đáng kể nhất trong chánh sách ngoại giao của Tổng Thống đó là Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải và hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Vì thế tôi viết thư này đến Tổng Thống để yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ hết lòng hỗ trợ chúng tôi về vật chất và chánh trị cần thiết mà chúng tôi cần đến để đưa đến sự phục hồi nguyên trạng và dàn xếp êm đẹp việc tranh chấp quốc tế trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhân cơ hội này, tôi xin khẳng định lại với Tổng Thống lòng qúy mến sâu xa của tôi.
Ký tên: Nguyễn Văn Thiệu.
——————————
Letter to Pres Nixon from Pres Thieu.
Mr. President,
I wish to bring to your attention the current grave situation brought about by the People’s Republic of China’s military action in the area of the Hoang-Sa archipelago (Paracels) off the coast of central Viet-Nam.
That I approach you directly in this urgent way reflects the depth of my concern about recent developments there.
I believe you are aware of the acts of war perpetrated by the PRC in the Hoang-Sa archipelago in blatant violation of the sovereignty and territorial integrity of the Republic of Viet-Nam. The sovereignty of our country over these islands is based on historic, geographic and legal grounds as well as on the fact that the RVN has long exercised effective administration over these islands.
On January 11, 1974, the Ministry of Foreign Affairs of the PRC issued a statement claiming sovereignty over this archipelago. Our Ministry of Foreign Affairs immediately rejected this unfounded contention.
Subsequent to its claim on January 11, 1974, the PRC chose to use force to seize that portion of our national territory. It sent men and warships into the area of the islands of Cam-Tuyen (Robert), Quang-Hoa (Duncan), and Duy-Mong (Drummond) of the Hoang-Sa archipelago, and landed troops there.
In the face of these acts of war, and in order to defend the territorial integrity and national security of the RVN, Vietnamese naval forces stationed in the area enjoined the invaders to leave.
Instead of complying, the Communist Chinese vessels have chosen since January 18, 1974 to engage in provocative maneuvers, and have fired on the troops and naval units of the RVN causing casualties and extensive material damage.
On January 20, 1974, the PRC escalated further its acts of war. It sent its warplanes to bomb three islands of Cam-Tuyen (Robert) , Vinh-Lac (Money) , and Hoang-Sa (Pattle) where units of the armed forces of the RVN were stationing, and also landed its troops to capture these islands.
The present aggression against the RVN not only threatens the sovereignty and security of the RVN but constitutes a danger to peace and stability in Southeast Asia as well. It flatly contradicts the letter and the spirit of the Shanghai Joint Communiqué.
The PRC by openly using force to encroach upon the RVN’s territory, has blatantly violated international law, the Charter of the United Nations, the Paris Agreement of January 27, 1973 which it has pledged to respect and the Final Act of March 2, 1973 of the international conference on Viet-Nam to which it is signatory. In fact, article 1 of the Paris Agreement and article 4 oof (1) the Final Act made it an obligation for all states and especially for the signatories of the Final Act to respect the territorial integrity of Viet-Nam.
A serious threat to peace thus exists and can be removed only if the PRC is compelled to desist form (2) its present expansionist and warlike course of action against the RVN.
China’s encroachments upon the territory of the RVN not only constitute a blatant violation of international law and order but also cast a doubt upon the validity of the two most notable achievements of your foreign policy, namely the Shanghai Communiqué and the Paris Agreement of January 27, 1973.
I am therefore writing to you, Mr. President, to request that the United States government give us all material and political support which is needed to bring about the restoration of the status quo ante and the peaceful settlement of the international dispute over the archipelagos of Paracels and Spratley.
I avail myself of this opportunity to renew to your excellency the assurances of my highest consideration.
S/ Nguyen Van Thieu
His Excellency Richard Nixon
President Of The United States Of America
The White House, Washington, D.C.

Gorbachev và cuộc đấu tranh vì dân chủ


30/12/2011

Gorbachev và cuộc đấu tranh vì dân chủ


Jeffrey Sachs (The Huffington Post, 26/12/2011)
Phạm Nguyên Trường dịch
imageTuần trước thế giới đã khóc than và vinh danh Vaclav Havel, con người mà triết lí sống trong sự thật đã mang lại tự do cho nhân dân nước ông và hi vọng cho người dân ở tất cả những nơi khác. Tuần nay chúng ta phải vinh danh một nhà cách mạng và một nhà dân chủ vĩ đại nữa, một nhà hoạt động nhà nước có thể là vĩ đại nhất thế giới nhưng lại ít được ca ngợi nhất. Trong mấy ngày gần đây, Mikhail Gorbachev, cựu tổng thống Liên Xô, hiện đã 80 tuổi, đã dũng cảm kêu gọi chính phủ Nga từ chức vì đã để xảy ra những vụ gian lận trong cuộc bầu cử quốc hội vừa qua. Bằng cách làm như thế, Gorbachev tiếp tục chiến dịch nổi bật và có tính lịch sử nhằm ủng hộ nền dân chủ ở Nga và trên toàn thế giới của ông.
Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989, chế độ dân chủ đã được củng cố ở các nước Trung và Đông Âu hậu cộng sản, nhưng ở Nga cũng như ở nhiều nước thuộc thành phần Liên Xô cũ điều đó đã không xảy ra. Gorbachev kiên trì lên án việc nước Nga quay trở lại với chế độ độc đảng, thậm chí là quay trở lại với sự cai trị của một con người, khi nhà độc tài Vladimir Putin càng ngày càng kiểm soát chặt chẽ hơn các định chế vừa mới hình thành ở Nga trong lĩnh vực chính trị, truyền thông, khoa học và các địa phương trong nước.
Mặc dù Gorbachev là một nhà dân chủ hàng đầu ở Nga, nhưng ở Nga ông lại bị nhiều người chửi rủa, còn ở Mĩ thì ông bị lờ đi, giới trẻ khắp thế giới hầu như không biết đến ông. Nhưng sự kiện, tuy không được tuyên bố ồn ào, là sự tận tụy của Gorbachev đối với nền dân chủ đã mang lại kết quả có thể cảm nhận được trên tất cả các khu vực trên hành tinh của chúng ta. Ông không chỉ có những đóng góp mang tính quyết định đối với tiến trình dân chủ hóa sau năm 1989 ở Trung và Đông Âu của Havel mà còn đối với tiến trình truyền bá dân chủ ở châu Phi và châu Á trong suốt hai thập niên qua. Trong tháng này Gorbachev lại tham gia cùng với đồng bào của ông trong cuộc chiến đầu vì nền dân chủ ở Nga.
Số phận của Gorbachev là trở thành lãnh tụ của phong trào dân chủ trong Đảng Cộng sản Liên Xô – một tổ chức phi dân chủ nhất thế giới. Ông đã được ban lãnh đạo Đảng đưa lên cầm quyền vào năm 1985 nhằm đưa động lực mới vào nền kinh tế đang sụp đổ một cách nhanh chóng. Nhưng sự cứng nhắc và dối trá của hệ thống kinh tế và chính trị của Liên Xô làm cho nó không thể thay đổi được, kết quả là sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nước Liên Xô và nền kinh tế của nó vào năm 1991.
Trong sáu năm cầm quyền, Gorbachev đã cố gắng đổi mới chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết bằng những biện pháp hòa bình và dân chủ. Nhưng dĩ nhiên vấn đề là nền kinh tế Liên Xô là hệ thống bất bình thường, đây là hệ thống dùng mệnh lệnh của nhà nước, dùng đe dọa và lực lượng của Gulag để quản lí người dân và những nguồn lực khác. Nhưng Gorbachev vẫn không ngừng tìm cách cải tạo hệ thống, không phải bằng mệnh lệnh mà bằng cách thuyết phục và kêu gọi mọi người hướng đến sự thật và hợp tác.
Không còn khủng bố và đe dọa, hệ thống kế hoạch hóa tập trung của Liên Xô đã sụp đổ, còn trong nền kinh tế thì xuất hiện những thiếu hụt rất lớn, sản xuất suy sụp và đến năm 1991 thì xảy ra khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Hậu quả thảm khốc đã chứng minh câu nói nổi tiếng của De Tocqueville: “Thời khắc nguy hiểm nhất đối với một chính phủ tồi là khi nó bắt đầu tự cải tổ”. Ở Nga càng ngày người ta càng chán ghét Gorbachev vì nền kinh tế ngày càng tồi tệ thêm, mặc dù ông đã cất được cái ách áp chế chính trị đã đè nặng trên vai đồng bào của mình trong suốt một thời gian dài. Cuối cùng, ông đã rút khỏi quyền lực vào tháng 12 năm 1991, đấy là khi Liên Xô giải thể và dọn đường cho sự xuất hiện của 15 nước kế vị Liên Xô.
Tôi đã theo dõi kĩ hành động của Gorbachev trong suốt giai đoạn lịch sử này. Trong những năm 1989-1991 tôi là cố vấn kinh tế cao cấp cho chính phủ mấy nước hậu cộng sản ở Trung và Đông Âu. Chính Gorbachev đã nói với những người đồng nhiệm của mình trong những nước đó rằng thời kì độc quyền chính trị của họ đã chấm dứt, và đây là lúc họ phải nhường chỗ cho các lực lượng dân chủ của châu Âu. Thí dụ như ở Ba Lan, mùa hè năm 1989 ông đã nhân danh phong trào Đoàn kết đối lập và nói với nhà lãnh đạo cộng sản lúc đó là Wojciech Jaruzelski rằng đây là lúc mà chế độ cộng sản phải chia sẻ quyền lực với phong trào Đoàn kết. Một tháng sau, vị thủ tướng Ba Lan hậu cộng sản đầu tiên – kể từ sau Thế chiến II – giành được quyền lực.
Những sự kiện tương tự đã diễn ra trên khắp đế chế Xô Viết cũng như ở bên ngoài biên giới nước này. Gorbachev đã nhiều lần thuyết phục người ta tiến hành thay đổi theo hướng dân chủ trong những nước do Liên Xô kiểm soát ở Trung và Đông Âu, cũng như trong những khu vực chịu ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Phi và châu Á. Sự cởi mở và những cuộc cải cách của Gorbachev còn làm suy yếu những chế độ cực hữu trên toàn thế giới, đấy là những chế độ mà lí do tồn tại của chúng là chống lại chủ nghĩa cộng sản Xô Viết. Những cuộc cải cách dân chủ của Gorbachev đã làm suy yếu chế độ phân biệt chủng tộc, chống cộng ở Nam Phi và góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng dân chủ của Nelson Mandela ở nước này.
Ở Mĩ, Ronald Reagan được coi là người đã giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh lạnh. Còn Gorbachev, nếu được nói tới thì cũng chỉ vì ông đã đầu hàng vì không chịu được áp lực của cuộc chạy đua vũ trang mà Reagan kích động mà thôi. Nhưng then chốt cho việc kết thúc một cách hòa bình cuộc chiến tranh lạnh không phải là cuộc chạy đua vũ trang trong những năm 1980 và cũng không phải là sự vượt trội của Mĩ về mặt cộng nghệ. Trong những điều kiện “bình thường”, sự suy sụp của Liên Xô có thể làm gia tăng bạo lực và dẫn đến những cuộc phiêu lưu quân sự. Liên Xô đã tự nguyện giải thể, mặc dù họ vẫn nắm trong tay hàng chục ngàn đầu đạn hạt nhân. Trong khi không biết bao nhiêu người anh hùng đã hi sinh cuộc sống của mình cho kết quả như thế thì sự cam kết của cá nhân Gorbachev đối với hòa bình và dân chủ đã có vai trò quyết định. Lãnh đạo đức hạnh đã là nguyên nhân của sự cáo chung của hệ thống vô đạo.
Phương Tây đã có thể làm được nhiều hơn trong việc giúp đỡ những cuộc cải cách dân chủ của Gorbachev. Trong những năm 1990-1991, Gorbachev đã theo dõi sát sao những cuộc cải cách kinh tế ở Ba Lan và đã thúc giục phương Tây ủng hộ những biện pháp tương tự ở Liên Xô. Nhưng khi Gorbachev kêu gọi phương Tây giúp đỡ như đã từng giúp đỡ Ba Lan thì Tổng thống Bush-cha và Bộ trưởng Quốc phòng Richard Cheney đã cự tuyệt. Một năm sau, Bill Clinton cũng quay lưng lại với Boris Yeltsin, ông này lúc đó là Tổng thống của nước Nga độc lập. Không có sự giúp đỡ về mặt tài chính của phương Tây và với sự chia rẽ sâu sắc về chính trị, với tình hình kinh tế tai hại như thế, những cuộc cải cách dân chủ vừa hình thành ở Nga đã rơi vào hỗn loạn và tham nhũng.
Nước Nga đã chịu đựng chế độ độc tài suốt hàng trăm năm qua, cho nên quá trình chuyển tiếp sang nền dân chủ sẽ gặp phải những thách thức to lớn. Thực tế đã diễn ra đúng như thế. Hôm nay, những người trẻ tuổi đầy dũng khí biểu tình trên đường phố Moskva và những thành phố khác ở Nga đang đưa ra đòi hỏi mạnh mẽ nhất về chế độ dân chủ. Chế độ hiện nay đang tìm cách cố thủ, nhưng sức mạnh của tuổi trẻ, được đồng loạt thể hiện trong những cuộc biểu tình phản đối, cuối cùng nhất định sẽ chiến thắng. Dù những người phản đối có công nhận hay không, nhưng Mikhail Gorbachev, một chính khách vĩ đại nhất hiện còn sống của nước Nga đã có những đóng góp quyết định cho những thành tựu trong tương lai của họ.
J. S.
Jeffrey Sachs là giám đốc Viện trái đất (Earth Institute) ở Columbia University; tác giả cuốn Giá của nền văn minh (The Price of Civilization).