Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Quy định riêng về DNNN trong TPP: Thách thức hay cơ hội?


Quy định riêng về DNNN trong TPP: Thách thức hay cơ hội?

Tuy chúng ta cùng đàm phán TPP và sẽ có những nhượng bộ lẫn nhau. Nhưng chắc chắn không có chuyện những quốc gia khác sẽ đứng lại để chờ Việt Nam. Cho nên cũng đừng loại trừ khả năng chúng ta sẽ không còn ở chung trên một con thuyền nữa, khi nó cập bến.
LTS: Tại Hội thảo Quốc tế Biển Đông lần thứ 3 tại Hà Nội cách đây gần 3 tuần, ngoài giới học giả, các chuyên gia tư vấn chính sách và giới ngoại giao, người ta còn thấy sự xuất hiện của một người đại diện cho giới kinh doanh.
Đó là bà Virginia Foote, Chủ tịch Hội đồng Thương mại Mỹ - Việt, và Chủ tịch Quỹ Đầu tư Vietnam Partners LLC, người mà suốt hơn 2 thập kỷ qua đã đóng một vai trò không nhỏ trong tiến trình bình thường hoá quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Mỹ và Việt Nam, cũng như đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam.
Mục Gặp gỡ & Đối thoại tuần này xin được giới thiệu cuộc trao đổi giữa phóng viên Tuần Việt Nam và bà Virginia Foote, bên lề cuộc hội thảo Biển Đông, như một góc nhìn của một đại diện giới kinh doanh đối với tình hình Biển Đông, môi trường kinh doanh ở Việt Nam, và triển vọng của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Xin bà cho biết lý do bà quan tâm tới sự kiện này.
Tôi nghĩ không chỉ các nhà hoạch định chính sách, giới quân sự, ngoại giao, rồi học giả quan tâm tới những giải pháp, gợi ý dược nêu ra và bàn thảo trong những hội nghị như thế này. Giới kinh doanh, nhất là các nhà đầu tư trong lĩnh vực năng lượng lượng, cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt.
Tôi là người luôn cố gắng khuyến khích các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Việt Nam, vì vậy tôi có mặt ở đây là để hiểu thêm những gì đang thực sự diễn ra ở Biển Đông, theo chiều hướng nào, và ảnh hưởng tới hợp tác đầu tư trong lĩnh vực năng lượng như thế nào..
Như bà thấy đấy, Conoco Phillips đang hoàn tất thủ tục để bán cổ phần của họ trong liên doanh dầu khí với Petro Vietnam. Mặc dù Exxon Mobil tuyên bố tìm thấy khí ở dự án ngoài khơi Việt Nam, cổ phiếu của công ty này vẫn giảm điểm, khi Trung Quốc lên tiếng phản đối dự án này.
Theo bà, liệu sự bất ổn tiềm tàng ở khu vực Biển Đông càng ngày càng là một trở ngại lớn đối với các nhà đầu tư Mỹ, nhất là trong lĩnh vực năng lượng, tiếp cận thị trường Việt Nam?
Tôi đã được nghe những đề xuất giải quyết bất ổn thông qua kênh ngoại giao, nghe các học giả nhấn mạnh về tính quan trọng về địa chính trị của khu vực này... Rồi mọi người cũng bàn thảo về những khả năng có thể hợp tác cùng khai thác các nguồn tài nguyên ở Biển Đông, và tôi hy vọng đây sẽ là khía cạnh được mọi người quan tâm nhiều.
An ninh năng lượng là mối lo thường trực của mọi quốc gia. Với Việt Nam lại càng quan trọng.
Liệu sự quan tâm của các nhà đầu tư Mỹ có nhận được sự đảm bảo gì đó từ phía Chính phủ Mỹ hay không?
Mối quan tâm của chính phủ Mỹ, theo tôi quan sát, ngày càng tăng. Năm ngoái, Ngoại trưởng Hilary Clinton đã có mặt ở Hà nội hai lần. Tại ARF và tại Thượng đỉnh Đông Á. Năm nay đích thân Tổng thống Barrack Obam dự Thượng đỉnh Đông Á ở Bali (Indonesia).
Bà Virginia Foote
Ổn định ở Biển Đông không còn là vấn đề của riêng khu vực này nữa rồi, mà là mối quan tâm chung của toàn cầu, khi 53% lượng hàng hoá vận chuyển giữa các nước và các khu vực đi qua vùng này.
Một người bạn của tôi làm ở một hãng tư vấn lớn của Mỹ tại Việt Nam có nói rằng nếu như trước đây công việc chính của anh ta là tư vấn đầu tư vào Việt Nam, thì khoảng 2 năm trở lại đây khách hàng chính lại là những người muốn thoái vốn. Bà nghĩ gì về điều đó?
Trước hết, tôi cần khẳng định rằng Mỹ là một trong những nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam, tuy chưa phải lớn nhất. Hơi khó để tính chính xác của đầu tư Mỹ vào Việt Nam, bởi nó có thể đuợc tiến hành từ một lãnh thổ thứ ba, như Singapore chẳng hạn.
Thật khó giải thích là tại sao một số công ty vẫn tiếp tục ở lại, mà một số công ty khác lại muốn ra đi. Câu hỏi này anh phải dành cho phía chính phủ Việt Nam, bởi chính họ phải tìm hiểu là liệu môi trường đầu tư đã đủ hấp dẫn chưa, các thủ tục có quá rắc rối hay không.
Tôi cho rằng họ phải làm việc với cộng đồng doanh nghiệp để làm sao cải thiện được môi trường kinh doanh ở Việt Nam - một việc phải được thúc đẩy mạnh mẽ hơn so với thời kỳ trước khủng hoảng. Bởi do khủng hoảng, nguồn vốn huy động cho một dự án đầu tư càng khó gấp bội, rủi ro cũng cao hơn. Và, bù lại, môi trường kinh doanh lại càng cần thông thoáng, minh bạch mới có hy vọng mời gọi được các nhà đầu tư nước ngoài vào.
Chính một số nhà đầu tư Mỹ đã nói với tôi rằng, sau khi tìm hiểu thị trường và môi trường kinh doanh ở Việt Nam, họ thấy khó có thể vào Việt Nam làm ăn được. Việc giải quyết các thủ tục quá chậm chạp, quá khó khăn và quá tù mù.
Hơn nữa, về thương mại, trong hai năm trở lại đây, Việt Nam đã có những qui định hạn chế thương mại, có lẽ là để bảo vệ các doanh nghiệp trong nước. Điều đó đã khiến các công ty nước ngoài, trong đó có Mỹ, bị tổn thương. Tôi nghe thấy nhiều phàn nàn từ phía họ.
Đây cũng là lý do nhiều công ty đang cân nhắc xem có nên mở rộng sản xuất kinh doanh, hay thu hẹp lại. Hoặc những người muốn vào cũng trở nên lưỡng lự hơn.
Tuy nhiên, một thoả thuận thương mại tự do giữa hai nước, trong khuôn khổ TPP, có thể là một xung lực mới và quan trọng để thu hút đầu tư từ Mỹ vào Việt Nam.
Thế còn vấn đề lao động, mà cụ thể là quyền tự do lập hội, có phải là một trở lực tiếp theo không, nhất là đối với Việt Nam?
Tôi cũng đoán vậy. Mặc dù, theo tôi biết, vấn đề này chưa được đưa lên bàn đàm phán. Không chỉ với Việt Nam, mà chắc một số nước khác cũng thấy có những khó khăn nhất định so với những nước còn lại.
Tôi nghĩ chắc vấn đề này phải sang năm mới được đưa ra. Việt Nam rất cần nghiên cứu kỹ những hiệp định thương mại song phương mà Mỹ đã ký, xem liệu điều này có được đưa vào hay không, mà có sự chuẩn bị kỹ lưỡng các phương án. Nếu có, chắc chắn đây sẽ là lập trường kiên quyết của các nhà đàm phán Mỹ.
Tại vòng đàm phán trước tại Lima (Peru), Mỹ đưa ra đề xuất cần các qui định mậu dịch mới cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà họ cho rằng được trợ giá và bảo hộ không công bằng. Việt Nam đã phản đối, trong khi những nước như Malaysia lại cho rằng cần cần cân nhắc trước khi nêu chính kiến. Nhận xét của bà?
Tôi nghĩ trong quá trình đàm phán Hiệp đinh Thương mại song phương Mỹ - Việt (BTA), hay đàm phán để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vấn đề DNNN cũng đã được hai bên bàn thảo, nhưng dưới hình thức đảm bảo cạnh tranh bình đẳng. Có lẽ đây là lần đầu tiên Mỹ nêu thẳng yêu cầu cần có một qui định riêng cho DNNN, và, vì vậy, Việt Nam đã phản ứng tức thì như vậy, bởi vẫn chưa quen với cách nói thẳng vào vấn đề của người Mỹ.
Theo tôi, vẫn cần có thời gian để từng quốc gia tham gia đàm phán phân tích cặn kẽ cái lợi cái hại của đề xuất này, như cách Malaysia đã làm. Việt Nam không phải là nền kinh tế duy nhất, trong số 9 nước đàm phán TPP, có sự tham gia của DNNN. Nhưng về qui mô và mức độ thì không ai vượt mặt được Việt Nam.
Không chỉ các công ty tư nhân trong nước phàn nàn về sự đối xử bất bình đẳng giữa hai khu vực doanh nghiệp này đâu, cả các nhà đầu tư vào đây tìm hiểu thị trường Việt Nam cũng lắc đầu nói rằng với sự ưu đãi quá mức mà chính phủ dành cho DNNN thì khó có ai mà cạnh tranh nổi với họ.
Bà có nghĩ đề xuất của phía Mỹ về việc giám sát chặt chẽ hoạt động thương mại của DNNN, mặt khác, sẽ là một cơ hội để Việt Nam mạnh dạn đổi mới DNNN theo hướng nâng cao khả năng cạnh tranh thật sự, nhất là quá trình tái cấu trúc DNNN mà giới lãnh đạo Việt Nam vừa khẳng định là một trong ba lĩnh vực ưu tiên?
Những đòi hỏi khắt khe của Mỹ khi đàm phán BTA, theo nguyên tắc WTO chứ không phải của riêng nước Mỹ, được coi là một động lực to lớn để Việt Nam thúc đẩy cải cách hệ thống luật pháp, môi trường kinh doanh ngày càng tương thích hơn với thông lệ quốc tế, giúp nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Rất may, lúc đó giới lãnh đạo Việt Nam đã mạnh dạn chấp nhận điều đó.
Còn hiện nay, chúng ta đều ngày càng thấy rõ rằng Việt Nam gặp phải nhiều hệ luỵ của việc DNNN vẫn chiếm vị trí ngự trị trong nền kinh tế. Đó là những vấn đề của hệ thống ngân hàng như dư nợ tín dụng cao, rồi sự thiếu minh bạch, sự thiếu khả thi của hệ thống qui định, nạn tham nhũng...
Tất nhiên, chuyện nợ nần, tham nhũng, hay thiếu minh bạch..., nước nào cũng có. Nhưng ở Việt Nam thì dường như những vấn nạn này lại nổi cộm.
Hơn nữa, nhiều chuyên gia nhận xét với tôi rằng qui mô, sự tập trung các nguồn lực và sự thống trị của các doanh nghiệp nhà nước, về dài hạn, sẽ làm hại nền kinh tế Việt Nam. Bởi tất cả những cái đó đã làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam như một địa điểm đầu tư.
Vì vậy, đây sẽ là một cơ hội, nếu giới lãnh đạo Việt Nam thực sự ý thức được tính nghiêm trọng đó. Và những cam kết mới trong khuôn khổ TPP sẽ là một động lực tiếp tục thúc đẩy Việt Nam vượt qua sự trì trệ hiện nay, và là một cú hích mới cho việc tiếp tục cải cách.
Đầu tháng 12 tới, sẽ tiếp tục một vòng đàm phán mới về TPP. Bà có dự đoán gì về khả năng ký kết được hiệp định này?
Tôi nghĩ một số lĩnh vực đàm phán đã đạt được kết quả tốt, nhưng vẫn còn nhiều thứ phải thảo luận thêm như thuế, những qui định. Hơn nữa, có một số lĩnh vực hoàn toàn mới được đưa vào, và ngôn ngữ cũng khác. Tôi nghĩ chắc hẳn sẽ cần ít nhất một năm nữa các bên mới hy vọng có thể ký được.
Chúng ta hy vọng sẽ có thêm Nhật Bản vào một giai đoạn nào đó, và vài nước khác cũng thể hiện mối quan tâm. Nhưng điều quan trọng hơn là không ai bỏ cuộc giữa chừng.
Bà nói như vậy là sao?
Nên nhớ rằng, tuy chúng ta cùng đàm phán TPP và sẽ có những nhượng bộ lẫn nhau. Nhưng chắc chắn không có chuyện những quốc gia khác sẽ đứng lại để chờ Việt Nam.
Cho nên cũng đừng loại trừ khả năng chúng ta sẽ không còn ở chung trên một con thuyền nữa, khi nó cập bến.
Xin cám ơn bà.

Ai hưởng lợi từ DOC – COC?

Ai hưởng lợi từ DOC – COC?
Vẫn sẽ có những tiến bộ, rất nhỏ và rất từ từ, trong đàm phán COC. Nhưng chỉ đủ để chứng tỏ rằng ASEAN và Trung Quốc đang đi đúng hướng, và sự can dự của Mỹ chỉ làm phức tạp hoá tiến trình này. Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tận dụng thời gian để củng cố sức mạnh.

LTS: Đăng đàn trước Quốc hội sáng 26/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông tin thêm cho nhân dân về tình hình Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như chính sách Việt Nam theo đuổi để giành và giữ chủ quyền trên biển.
Trước đó, sau khi kết thúc Hội thảo Quốc tế Biển Đông lần thứ 3 tại Hà Nội vào trung tuần tháng 11 vừa rồi, nhà ngoại giao kỳ cựu của Philippines, ông Rudolfo Severino với những trải nghiệm ở nhiều cương vị khác nhau, tại nhiều nước khác nhau, đã chia sẻ với Tuần Việt Nam những nhận định của cá nhân ông, với tư cách một học giả, về triển vọng giải quyết tranh chấp ở Biển Đông, qua những tiến trình như DOC, hay COC, cũng như sự can dự của bên ngoài vào việc kiềm chế xung đột trong khu vực.
Chỉ nửa năm sau khi rời cương vị tổng thư ký ASEAN cuối năm 2002, ngay sau khi Tuyên bố về Ứng xử của các bên trên Biển Đông được ký kết, ông Rudolfo Severino nhận được lời mời từ Trung tâm Nghiên cứu ASEAN ở Singapore, nơi ông làm giám đốc từ đó đến nay.
Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu
Xin ông cho biết xu hướng tiến triển của việc giải quyết tranh chấp Biển Đông hiện nay?
Điều phức tạp nhất, theo tôi, cho tới tận thời điểm này chúng ta vẫn không biết rõ Trung Quốc hàm ý gì khi đưa ra tấm bản đồ có đường chữ U chín đoạn vào mùa hè năm 2009. Họ hàm ý tuyên bố chủ quyền với tất cả các vùng biển năm trong đường chữ U, hay chỉ với các điểm đảo trong đó và các vùng biển được tạo ra bởi các điểm đó theo đúng Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS)? Không ai biết cả, vì chưa hề có lời giải thích rõ ràng từ phía chính phủ Trung Quốc.
Quan điểm của riêng ông?
Đường chữ U đứt khúc đó không được xác định rõ ràng bằng hệ toạ độ, nên chỉ là một đường vẽ trên bản đồ, không hơn không kém, và không hề có cơ sở pháp lý.
Lý do vì sao chính phủ Trung Quốc lại thoái thác nghĩa vụ giải thích này?
Theo tôi hiểu họ cố gắng không chịu đưa ra định nghĩa rõ ràng cho đường chữ U vì họ ý thức được tính phức tạp và nhạy cảm của việc giải quyết tranh chấp theo tuyên bố của họ, và vì vậy, sự mơ hồ trong tuyên bố của họ là sự cố ý. Hoặc giả, trong nội bộ họ vẫn còn sự bất đồng lớn.
Thế còn qua kênh học giả thì sao? Qua các cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Việt Nam, ông có tìm hiểu thêm được chút gì từ các học giả đến từ Trung Quốc không?
Không. Họ càng giải thích thì người nghe càng thấy mơ hồ. Điều duy nhất mà tôi cảm nhận rõ ràng các học giả Trung Quốc cố gắng bảo vệ cho lập trường của chính phủ Trung Quốc.
Tuy nhiên, tôi cũng hy vọng rằng, ở mức đó nào đó, các học giả cũng có ảnh hưởng nhất định đối với chính phủ họ, trong việc điều chỉnh chính sách. Thông qua trao đổi với giới học giả quốc tế, họ có thể giúp chính phủ Trung Quốc hiểu được rằng các nước khác nghĩ gì về chính sách Biển Đông của họ.
Cựu TTK ASEAN Severno (phải) đang trao đổi với lãnh đạo Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý
Chẳng hạn, tuy các học giả của Philippines là những học giả độc lập, trong tham luận của mình họ vẫn phản ánh được lập trường của chính phủ Philippines và phản ứng của người dân Philippines đối với chính sách Biển Đông của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc thực sự muốn thúc đẩy quan hệ với Philippines, họ phải tính đến những yếu tố đó.
Theo ông, nhân tố cốt yếu trong tranh chấp chủ quyền hiện này là gì?
Lợi ích quốc gia. Và hầu như quốc gia tranh chấp nào cũng xuất phát từ trải nghiệm của mình.
Philippines đã bị Nhật Bản tấn công từ phía Tây trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, nên kiểm soát được vùng biển phía Tây là vấn đề sống còn về chiến lược của họ.
Hay một phần Biển Đông đã nối hai bờ Đông Tây của Malaysia, vì vậy họ cố gắng kiểm soát được phần mở rộng của Biển Đông này, và khiến những tuyên bố chủ quyền của họ có thể chồng lấn với yêu sách của các nước khác như Philippines, Việt Nam hay Trung Quốc...
Trung Quốc thì cố gắng không để bị tấn công từ Biển Đông như trong hai thế kỷ trước, và cố gắng đẩy Mỹ ra càng xa càng tốt.
Còn với Việt Nam là mối lo bị bị bao quanh bởi đất liền vào các vùng nước của Trung Quốc, hay các khu vực mà họ yêu sách chủ quyền. Điều mà chắc chắn Việt Nam không thể chấp nhận là quyền lợi quốc gia của mình bị xâm hại.
Đó là chưa nói tới những trải nghiệm đau đớn đối với người Việt Nam khi 1974 hải quân Trung Quốc dùng vũ lực chiếm một phần Hoàng Sa từ tay Việt Nam (Việt Nam Cộng Hoà - TG), và trận hải chiến đẫm máu sau đó 14 năm ở Trường Sa.
Ông nhìn nhận như thế nào về quan điểm của Trung Quốc trong việc phản đối đa phương hoá, hay quốc tế hoá giải quyết tranh chấp?
Tôi đồng ý rằng chủ quyền và quyền tài phán chỉ nên được giải quyết bởi các bên tuyên bố chủ quyền. Nhưng chỉ ở Hoàng Sa mới là chuyện tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam, chứ còn ở Trường Sa thì phần lớn là có nhiều bên tranh chấp. Không đa phương thì sao? Hơn nữa, liệu Trung Quốc có chấp nhận kết quả đàm phán song phương giữa Philippines và Việt Nam, hay Việt Nam và Malaysia hay không?
Còn liên quan đến "quốc tế hoá", tôi nghĩ những nước không tuyên bố chủ quyền, nhưng có lợi ích về thương mại, như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, hay thậm chí cả những nước xuất khẩu dầu mỏ, đều có lợi ích từ hoà bình và ổn định ở khu vực Biển Đông. Họ có tiếng nói, và sự can dự vào việc đảm bảo tự do hàng hải và hàng không là điều hợp lý.
Vậy ông nghĩ gì về bản hướng dẫn thực hiện DOC (Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại Biển Đông), được ký hồi tháng 7, được coi như một bước đột phá trong việc giảm căng thẳng trong khu vực?
Theo quan điểm của tôi, bản hướng dẫn còn chung chung hơn cả bản thân DOC. Điều có nghĩa nhất và quan trọng nhất là tại sao nó được đưa ra vào thời điểm diễn ra Diễn đàn An ninh khu vực (ARF).
Theo tôi, nó tạo ra cảm giác cho mọi người là vấn đề đã được kiểm soát trong nội bộ khu vực nhằm kiềm chế xung đột, và vì vậy không cần thiết có sự can dự của bên ngoài, nhất là Mỹ.
Chính vì vậy, theo tôi, xét trên tiêu chí về lợi ích quốc gia, Trung Quốc là nước hưởng lợi. Chính vì vậy, sau 8 năm phớt lờ, giữa năm ngoái họ mới chấp nhận thúc đẩy việc thực thi DOC, khi Mỹ khẳng định lợi ích quốc gia của họ ở Biển Đông tại ARF.
Ý ông nói nhờ có những tuyên bố và cả hành động can dự của Mỹ, DOC mới đạt được bước tiến, tuy là về mặt hình thức, như hiện nay?
Đúng thế. Nhưng thực sự liệu những xung đột tiềm tàng, ở những mức độ khác nhau, có được tháo ngồi nổ hay không, sau khi bản hướng dẫn này được ký, vẫn là một dấu hỏi lớn. Bởi còn nhiều yếu tố khác nữa.
Là Tổng Thư ký ASEAN khi DOC được ký kết, ông hình dung thế nào về triển vọng của COC (Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông) mà gần đây người ta bắt đầu hâm nóng lại?
Nhìn lại cả quá trình lúc đó, chúng ta nhớ lại rằng ý tưởng đầu tiên là một bộ qui tắc ứng xử, nhưng cuối cùng các nước ASEAN và Trung Quốc phải tạm hài lòng với một tuyên bố chính trị là DOC. Bởi vì, một văn bản có tính ràng buộc về pháp lý không thực hiện được vì những bên tham gia bất đồng về phạm vi áp dụng của nó.
Việt Nam muốn gắn cả quần đảo Hoàng Sa vào, nhưng Trung Quốc phản đối. Một số thành viên ASEAN yêu cầu nhất thiết phải có Trung Quốc trong tiến trình này, và cái giá phải trả là đề xuất về một một tuyên bố chính trị.
Khi vào thời điểm này, mọi người lại bắt đầu nói về triển vọng của COC, nhưng không hiểu họ hình dung những trở ngại trong quá khứ sẽ được vượt qua như thế nào. Riêng tôi, với toàn bộ vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mình, tôi chịu.
Tức là không loại trừ khả năng sẽ chẳng có tiến triển gì trong việc đàm phán COC, như là với DOC trong suốt 8 năm trời?
Không hoàn toàn như vậy. Vẫn sẽ có những tiến bộ, rất nhỏ và rất từ từ. Nhưng chỉ đủ để chứng tỏ rằng ASEAN và Trung Quốc đang đi đúng hướng, và sự can dự của Mỹ chỉ làm phức tạp hoá tiến trình này. Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tận dụng thời gian để củng cố sức mạnh.
Có những học giả cho rằng để có thể đi tới một giải pháp nào đó cho các tranh chấp trên Biển Đông, Trung Quốc trước hết phải từ bỏ yêu sách vô lý về vùng nước bên trong đường chữ U. Ý kiến của ông?
Có thể. Nhưng điều cần làm trước tiên là Trung Quốc phải giải thích rõ ràng về đường chữ U đó trên tấm bản đồ đó.
Nhưng nếu họ vẫn tìm cách thoái thác giải thích, hay giải thích một cách vòng vo như hai năm rưỡi vừa qua thì sao?
Thì họ càng có lợi trong việc củng cố sức mạnh quân sự, và tôi đoán họ sẽ làm như vậy.
Chính vì vậy có những thành viên ASEAN muốn Mỹ tham gia vào tiến trình này, như một đối trọng?
Có điều, Mỹ tự xác định mình có một trách nhiệm toàn cầu, và, vì vậy, Biển Đông chỉ là một trong những quan tâm của họ. Sự can dự của họ đến mức nào mới là điều đáng quan tâm.
Thứ hai, việc Mỹ đang duy trì một quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc từ chiến lược, đến kinh tế, chính trị, quân sự..., cũng là một lợi thế khác cho sự can dự này.
ASEAN cũng có thể chọn cách thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với Trung Quốc. Có điều, một khi Trung Quốc càng ngày càng mạnh hơn, trong câu chuyện tranh chấp chủ quyền, liệu họ có coi trọng quan hệ với các nước ASEAN nhỏ bé?
Tôi nghĩ ASEAN không bao giờ muốn phải chọn một trong hai: Trung Quốc hay là Mỹ. Có điều, cần phải rất khéo léo trong quá trình hoạch định chính sách liên quan tới hai cường quốc này.
Ông nghĩ thế nào về một ASEAN gắn kết và đủ mạnh để có một vị thế nào đó khi đàm phán với Trung Quốc, như đã có nhiều người kỳ vọng?
Hãy thực tế đi. Chúng ta đều biết Lào, Campuchia và Myanmar chẳng có mấy lợi ích trong việc phản đối những yêu sách của Trung Quốc. Tôi hy vọng một ASEAN đoàn kết hơn, nhưng ít hy vọng là riêng ASEAN có thể giúp giải quyết ổn thoả chuyện tranh chấp này.
Vậy thì những gắn kết gần đây giữa những nước có cùng cảnh ngộ, như giữa Việt Nam với Philippines, mặc dù trước đây Philippines đã lên tiếng phản ứng khi Việt Nam và Malaysia trình chung đăng ký về thềm lục đia mở rộng? Có phải chính sách của Philippines đã thay đổi với một tổng thống mới?
Tôi nghĩ sự leo thang của Trung Quốc đã khiến những nước nhỏ có tranh chấp với Trung Quốc tự nhiên có xu hướng tìm đến nhau, tìm sức mạnh chung để tự bảo vệ mình. Điều đó không nhất thiết là do Philippines có một tổng thống mới.
Đây là một xu thế tốt, nhưng còn nhiều điều cần tỉếp tục thúc đẩy.
Xin cám ơn ông.

Nhìn lại hành trình "học để hiểu nhau" giữa hai cựu thù


Nhìn lại hành trình "học để hiểu nhau" giữa hai cựu thù

Khi Việt Nam mới bắt đầu đổi mới, vị thế của ông Nguyễn Cơ Thạch còn lớn lắm. Lúc bấy giờ, giới báo chí nước ngoài đều cho rằng vị thế lớn của ông Thạch là một lợi thế lớn cho xu thế bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Họ đều biết nỗ lực không biết mệt mỏi của ông Thạch để thiết lập một kênh nào đó để thúc đẩy quan hệ với Mỹ, qua câu chuyện MIA (tìm kiếm người Mỹ mất tích), rồi qua tiếp xúc của ông Thạch ở Thái Lan...

LTS: Ngày 9.12.2011 tới Học viện Ngoại giao sẽ phối hợp với Hội đồng Thương mại Việt - Mỹ tổ chức kỷ niệm 10 năm ngày Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ có hiệu lực (10.12.2001), bằng một cuộc hội thảo và một Gala Dinner.
Ông Nguyễn Đình Lương, trưởng đoàn đàm phán BTA của Việt Nam, đã nhận xét rằng quá trình đàm phán này thực chất là quá trình hai bên học cách hiểu nhau.
Theo Tuanvietnam, nhận định của ông Lương, thực ra, có ý nghĩa cho cả hành trình Việt - Mỹ, từ những cựu thù mấy chục năm về trước trở thành những đối tác chiến lược trong những năm tới đây.
Tuanvietnam, kể từ Mục Gặp gỡ & Đối thoại tuần này sẽ giới thiệu loạt tư liệu về quá trình "học để hiểu nhau" đó. Những nhân vật trong loạt tư liệu này có những vai trò khác nhau trong hành trình này, nhưng điểm giống nhau là họ đều là những nhân chứng của một bối cảnh lịch sử - điều mà Tuanvietnam muốn nhấn mạnh.
Nhân vật trong Gặp gỡ & Đối thoại tuần này là ông Lương Văn Lý, hiện là Giám đốc của Công ty tư vấn đầu tư DNL Partners - người đầu năm 2007 đã làm xôn xao báo giới Sài Gòn với quyết định nộp đơn xin thôi chức Phó Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư TP HCM. Tuy nhiên, nội dung của cuộc trò chuyện dưới đây lại gắn với hơn 20 chục năm ông gắn bó với ngành ngoại giao, khi phụ trách mảng quan hệ Việt - Mỹ và báo chí của Sở Ngoại vụ TP HCM, trước khi chuyển sang Sở KHĐT vào đầu năm 2001.
- Nhà báo Huỳnh Phan: Kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc (4.1975), đến lúc nào thì phóng viên nước ngoài trở vào lại Việt Nam nhiều?
Cựu PGĐ Sở Ngoại Vụ Lương Văn Lý: Tôi nghĩ họ vào rải rác từ khoảng 1983-1984, bởi lúc đó Trung tâm Báo chí Nước ngoài (Bộ Ngoại giao) được thành lập cuối năm 1983 để thực hiện chức năng hướng dẫn phóng viên nước ngoài vào hoạt động ở Việt Nam.
Kể từ Đại hội VI của Đảng CSVN, với điểm nhấn quan trọng là quyết định đổi mới, phóng viên nước ngoài bắt đầu quan tâm mạnh trở lại đến Việt Nam. Nhưng thời điểm đánh dấu sự trở lại ồ ạt của họ chính là năm 1987, khi Quốc Hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên, và Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (SCCI) đã vào trong Sài Gòn tổ chức giới thiệu luật này với phóng viên nước ngoài tại Dinh Thống Nhất.
Ngày hôm sau, tại khách sạn Rex, nơi duy nhất tại Sài Gòn lúc đó có cabin dịch trực tiếp, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã dành cả một buổi sáng trả lời câu hỏi của các phóng viên nước ngoài, còn buổi chiều là phần trả lời của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và Chủ nhiệm SCCI Võ Đông Giang.
Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch và Chủ nhiệm Võ Đông Giang là những nhà ngoại giao lão luyện nên chuyện trả lời báo chí nước ngoài  chắc không có vấn đề gì. Thế nhưng, với TBT Nguyễn Văn Linh, không hiểu ông có bất ngờ trước cách đặt vấn đề quá trực diện của phóng viên nước ngoài hay không?
Không hề. Đây cũng là lần đầu tiên hỏi và trả lời trực tiếp, mà không có sự chuẩn bị trước câu hỏi và câu trả lời.
Cuộc đó nói chung được đánh giá là một cách tiếp xúc hoàn toàn mới của lãnh đạo Đảng và Nhà nước đối với báo chí quốc tế. Lần đầu tiên, một người đứng đầu Đảng CSVN tổ chức một cuộc họp báo với sự tham dự của hơn trăm phóng viên nước ngoài, thay vì trả lời phỏng vấn tay đôi như xưa nay, kể từ thời Bác Hồ.
Hình thức hỏi là hỏi câu nào trả lời câu đó, hay gom một nhóm câu hỏi rồi mới trả lời, như về sau này lãnh đạo Việt Nam vẫn làm?
Đa số hỏi 3-4 câu rồi trả lời một lần. Nhưng có những câu ông Linh thấy có thể trả lời ngay, ông trả lời luôn.
Ông Lương Văn Lý, hiện là Giám đốc của Công ty tư vấn đầu tư DNL Partners
Từ đó cho đến 1995, khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ, xu hướng báo chí nước ngoài khai thác những gì?
Suốt thời gian đó, họ chủ yếu quan tâm đến đổi mới của Việt Nam, tương lai triển vọng thế nào, có thành công hay không. Người ta hiếu kỳ muốn biết chuyện đó, và các phóng viên cố đi tìm những thông tin nội bộ của Việt Nam.
Dư luận chung cho là tuy kết quả cuối cùng của Đại hội VI là quyết định đổi mới, nhưng bên trong vẫn còn có những giằng co nhất định. Vì vậy, các phóng viên nước ngoài thường quan tâm ai thuộc phe nào, cấp tiến hay bảo thủ, như cách phân loại đơn giản của họ, rồi tương quan lực lượng ra sao.
Thứ hai, về kinh tế, Việt Nam thực hiện kinh tế thị trường ra sao. Bởi lúc đó sự quản lý của nhà nước với kinh tế rất nặng nề, và sự can thiệp của Đảng vào quá trình điều hành kinh tế rất sâu, thể hiện qua câu chuyện giá - lương - tiền. Qua tiếp xúc, tôi cảm nhận rằng họ vẫn nghi ngờ rằng tuy Việt Nam "nói dzậy, nhưng chưa chắc đã làm dzậy".
Thứ ba là quan hệ với Mỹ. Bởi chỗ đó là chỗ tắc lớn trong lối ra thế giới của Việt nam. Họ quan tâm tới e kíp lãnh đạo lúc đó, như ông Nguyễn Văn Linh, hay ông Nguyễn Cơ Thạch sẽ đưa quan hệ Việt - Mỹ đi về đâu.
Phóng viên nước ngoài nhìn nhận vai trò của ông Nguyễn Cơ Thạch như thế nào trong tiến trình Việt - Mỹ?
Khi Việt Nam mới bắt đầu đổi mới, vị thế của ông Thạch còn lớn lắm. Lúc bấy giờ, giới báo chí nước ngoài đều cho rằng vị thế lớn của ông Thạch là một lợi thế lớn cho xu thế bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Họ đều biết nỗ lực không biết mệt mỏi của ông Thạch để thiết lập một kênh nào đó để thúc đẩy quan hệ với Mỹ, qua câu chuyện MIA (tìm kiếm người Mỹ mất tích), rồi qua tiếp xúc của ông Thạch ở Thái Lan. Mặc dù, Việt Nam vẫn duy trì quân tình nguyện ở Campuchia, nhưng ông Thạch vẫn cố gắng giữ quan hệ đối thoại với Thái Lan.
Hay, thông qua những chuyến ông Thạch qua châu Âu, qua trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York, họ cũng biết ít nhất đang có người trong giới lãnh đạo Việt Nam vẫn miệt mài tìm các kênh khả thi để bình thường hoá quan hệ với Mỹ.
Sau hội nghị Thành Đô (bàn về Campuchia và bình thường hoá quan hệ Việt - Trung), đầu tháng 9.1990, giới báo chí nước ngoài nhận thức rằng sự nghiệp của ông Thạch đã tới khúc quanh, và họ cũng hiểu rằng xu thế bình thường hoá quan hệ với Mỹ đang bị mất đà.
Tuy tiến trình MIA vẫn được tiếp tục, nhưng sự đầu tư vào việc thúc đẩy tiến trình bình thường hoá này có phần bị sao lãng trong một khoảng thời gian nhất định. Thậm chí, dường như có sự e ngại trong số những người muốn tiếp tục tiến trình mà ông Thạch đang đi dở dang.
Xin ông nói rõ hơn?
Chẳng hạn, ngay cả Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai cũng đã có lúc bị phê phán là quá "thân" Mỹ.
Lúc đó, khi tiếp xúc với phóng viên nước ngoài, ông có bị hỏi về chuyện ra đi của ông Thạch không?
Không. Có chăng chỉ ở những buổi tiếp xúc không chính thức, như trong những bữa ăn trưa, hay bên ly bia, họ có nêu, nhưng chỉ hỏi vòng vòng thôi, chứ hầu như không nêu đích danh tên ông. Họ chỉ hỏi xu hướng bình thường hoá quan hệ thế nào.
Giả sử ông Thạch còn ở lại thêm một thời gian nữa, liệu Việt Nam và Mỹ có bình thường hoá được nhanh hơn không?
Tôi nghĩ có thể, nhưng không phải sớm hơn nhiều đâu. Bởi đó là sự nghiệp chung của cả hai bên, và phía Mỹ dường như cũng chưa hẳn đã sẵn sàng.
Mỹ lúc đầu còn quan tâm rất nhiều đến Trung Quốc. Bởi đổi mới của Việt Nam bị cải cách của Đặng Tiểu Bình khoả lấp. Cải cách ở Trung Quốc đã mở ra triển vọng quá lớn cả về chính trị và kinh tế cho Mỹ.
Lúc đó, tôi có cảm tưởng chẳng còn mấy ai trên thế giới quan tâm đến Việt Nam nữa.
Vì sao?
Campuchia thì qua rồi, chỉ còn vài vấn đề như MIA, hay nhân quyền, mà thôi. Mà chủ yếu đó cũng chỉ là mối quan tâm của các chính trị gia muốn kiếm phiếu thôi, chứ dư luận mấy ai quan tâm. Sự thờ ơ thể hiện khá rõ.
Dịp 30.4.2010, tôi có gặp nhiều cựu phóng viên chiến trường Mỹ tại Phnompenh và Sài Gòn, như Peter Arnett, Mike Morrow, Jim Laurie, hay Neil Sheehan. Họ đều nói là sau chiến tranh họ đều quay trở lại Việt Nam đưa tin về quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai cựu thù. Trong thời gian ở Sở Ngoại Vụ, ông có hay gặp họ không?
Có chứ. Barbara Crosssette của New York Times, Ron Moreau của Newsweek, Peter Arnett của CNN, Murray Hiebert của FEER, rồi Jean-Claude Pomonti... Riêng Neil Sheehan thì tôi gặp nhiều lần. David Halberstam thì tôi đưa đi gặp ông Phạm Xuân Ẩn...
Theo tôi, đó là những người chí cốt. Họ hiểu Việt Nam trước và sau cuộc chiến. Thậm chí, có những người còn không đồng tình với cuộc chiến. Trong thời gian trước bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ, họ chiếm số đông trong số các phóng viên Mỹ vào Việt Nam.
Họ hiểu biết Việt Nam cũng khá, họ cảm tình với Việt Nam cũng nhiều. Vì vậy, họ đóng góp khá nhiều để dư luận và chính giới Mỹ hiểu về một Việt Nam mới.
Ông đánh giá thế nào về việc phía Việt Nam đưa những người như ông Phạm Xuân Ẩn ra tiếp họ?
Tuyệt vời. Bởi, trước hết, họ quen nhau nên ngồi nói chuyện với nhau cũng dễ hơn. Hơn nữa, uy tín và hiểu biết của những người như ông Ẩn khiến cho những trao đổi với họ trở nên có trọng lượng và có sức thuyết phục cao.
Thời đó, để thu xếp những cuộc đó, ông có gặp khó khăn gì không? Phải vận động thuyết phục nhiều không?
Sau Đại hội VI có một sự "xả van" rất lớn trong xã hội. Trong lĩnh vực thông tin văn hoá, sự "xả van" càng lớn. Vì vậy, việc báo chí nước ngoài vào tiếp xúc với người này người kia không khó lắm.
Thông thường ở Trung tâm Báo chí Nước Ngoài ở Hà Nội sắp xếp hết. Khi vào đây, họ muốn gặp thêm nhân vật nọ, nhân vật kia, tôi thu xếp thêm. Chỉ cần báo cho bên cơ quan chức năng thôi, và họ biết vậy để nắm thông tin mà báo cáo thôi.
Trong không khí chung của mở cửa hội nhập lúc đó, vị thế của những người làm đối ngoại lớn lắm. Ngoại vụ than phiền về trở ngại nọ, trở ngại kia, là cũng phiền. Hơn nữa, những người làm đối ngoại chúng tôi cũng được hưởng cái thuận lợi từ vị thế của ông Nguyễn Cơ Thạch.
Ngoài ông Phạm Xuân Ẩn, họ còn được tiếp xúc với những ai trong Sài Gòn?
Ông Nguyễn Xuân Oánh, bà Dương Quỳnh Hoa, và bà Ngô Bá Thành, tức là những nhân vật Sài Gòn cũ còn ở lại.
Đối với lớp phóng viên có mặt ở Việt Nam trước 1975, có thể họ chưa hiểu về chế độ mới, nhưng về bối cảnh xã hội, kinh tế và văn hoá họ hiểu rất rõ. Do đó, trả lời phỏng vấn họ không hề đơn giản.
Ông đánh giá thế nào về vai trò của báo chí nước ngoài trong việc đưa hình ảnh Việt Nam ra bên ngoài, giúp thế giới hiểu Việt Nam hơn?
Quan trọng lắm. Chẳng hạn, khi Việt Nam ra luật đầu tư đầu tiên, thế giới biết được là do báo chí quốc tế. Chứ, hồi đó, bộ máy tuyên truyền quảng bá của mình cực kỳ yếu. Tôi nói thế không có nghĩa là khẳng định công tác thông tin quảng bá hiện giờ của Việt Nam đã mạnh.
Hay, đợt hưng phấn đầu tiên của thế giới và khu vực về Việt Nam như một con tiểu hổ, hay một con rồng nhỏ, là hoàn toàn do báo chí quốc tế tạo ra.. Công bằng mà nói họ đã đóng góp nhiều vào việc đánh bóng hình ảnh của Việt Nam. Tuy tôi chưa dám nói hay, hay là dở, bởi vẫn có nhiều đánh giá khác nhau.
Theo kinh nghiệm của bản thân, khi tiếp xúc với phóng viên nước ngoài, nên có cách ứng xử thế nào đối với báo chí nước ngoài?
Mục đích chính của chúng ta là giúp họ có một cái nhìn tương đối cân bằng về Việt Nam, chứ đừng mong hão là xoá định kiến của họ. Họ là những người có "sạn" trong đầu rồi.
Như vậy, việc đầu tiên là cần sắp xếp một chương trình làm việc của họ cho cân đối, và cố gắng tạo điều kiện cho họ đi càng nhiều càng tốt. Chính vì vậy những chương trình Hà Nội đưa vào tôi xem rất kỹ, và nếu cần thiết thì góp ý thêm. Cũng may lúc đó là thời ông Nguyễn Công Quang làm giám đốc TTBCNN nên rất dễ đối thoại.
Thứ hai là nên chủ động tiếp xúc. Khi họ vào tôi hay chủ động mời họ đi ăn cơm nói chuyện, qua đó mình hiểu họ hơn, và cũng chủ động cung cấp cho họ những thông tin mà họ thiếu.
Ông có thể dẫn chứng cụ thể không?
Hai đề tài mà tôi hay phải hầu chuyện họ là kinh tế và dân chủ - nhân quyền.
Họ nói lúc mới đổi mới Việt Nam tuyên truyền nói dữ lắm về kinh tế thị trường, nhưng mấy năm sau, mới thấy rõ là quản lý kinh tế của Việt Nam tồi lắm.
Tôi bảo họ là nên kiên nhẫn, tuy "cậu học trò Việt Nam" còn chưa thuộc hẳn bài học quản lý kinh tế, nhưng thấy cũng sáng dạ, chịu khó, và cầu thị. Lúc đó, tôi cũng hay chỉ họ tới thăm những công ty quốc doanh ăn nên làm ra, như công ty của bà Ba Thi (công ty Lương thực TP.HCM), hay IMEXCO... Tệ cái, sau này họ không theo kịp thời thế nên làm ăn bết bát, thậm chí sập tiệm.
Còn về đề tài thứ hai, tôi nói rằng nếu đến Việt Nam với một quan điểm cực đoan về dân chủ, như ở Mỹ, là không thể nào có được. Thế nhưng, xét ra cái gốc dân chủ ở Việt Nam có xuất phát điểm là đồng thuận xã hội - cũng là một nguyên lý dân chủ thuộc loại cơ bản trên thế giới. Hơn nữa, ở Việt Nam đó còn là một yếu tố của nền văn hoá. Thì anh thấy đấy, những quyết sách đưa ra mà không nhận được sự đồng thuận của xã hội khó mà thực thi được.