Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Quán cà phê và tờ tuần báo kinh tế

Quán cà phê và tờ tuần báo kinh tế

(VEF.VN) - Cách đây 20 năm, những người làm báo kinh tế ở TP.HCM tưởng mở một quán cà phê làm nơi giao lưu giữa các nhà báo với các chuyên gia kinh tế, và giới doanh nhân. Để từ đó các những người tay mơ về kinh tế như họ có thể làm một tờ báo chuyên nghiệp thực sự.

LTS: Đã từ lâu lắm rồi, cà phê và báo chí thường đồng hành với nhau.
Trong một thập kỷ trở lại đây, với sự phát triển của mobile phone, laptop và Internet, quán cà phê đã trở thành văn phòng làm việc di động của nhiều nhà báo. Không ít người trong số họ, trong đó có cả người viết, lại thấy thích ngồi viết bài ở quán cà phê, trong tiếng nhạc và tiếng nói chuyện. Thỉnh thoảng lại nhập một ngụm cà phê, rít thuốc, cho thêm phần cảm hứng sáng tạo.
Nhưng trước đó, không biết từ bao giờ, và cho tới tận bây giờ, quán cà phê vẫn là nơi thích hợp để các nhà báo tác nghiệp. Họ vừa uống cà phê, vừa trao đổi thông tin, hay gặp gỡ các nguồn tin. Thậm chí nhiều cuộc phỏng vấn cũng được thực hiện ở quán cà phê. Có những quán cà phê, Givral ở Sài Gòn - nơi các phóng viên chiến trường của các hãng tin phương Tây, trước năm 30.4.1975, hay gặp gỡ nhau để trao đổi thông tin - đã trở thành địa danh lịch sử.
Vào đầu những năm '90 đã xuất hiện hai quán cà phê khá đặc biệt ở Việt Nam. "Đặc biệt" là bởi vì sự ra đời của những quán cà phê đó gắn liền với sự ra đời của hai tờ tuần báo. Một về kinh tế, một về đối ngoại. Một ở Sài Gòn, một ở Hà Nội.
Cũng từ cảm hứng sáng tạo do cà phê mang lại, nhiều nhà báo cũng hay viết về cà phê.
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, từ đầu tháng Ba này sẽ giới thiệu loạt bài của phóng viên Huỳnh Phan về cà phê - những câu chuyện mà tác giả đã tình cờ nghe được - từ những quán cà phê đến phòng hội thảo.
Câu chuyện thứ nhất: Quán cà phê và tờ tuần báo kinh tế
Thôi làm Phó Tổng Biên tập Saigon Times Group (SGT) được một năm nay, theo chế độ hưu trí, hàng ngày ông Trần Ngọc Châu vẫn đến 35 Nam Kỳ Khởi Ngĩa, Quận Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, nơi có SGT Club, để uống cà phê, ăn sáng.
Những khi cần tiếp khách, mời tiệc, vị giám đốc điều hành của kênh truyền hình chuyên về tài chính và kinh doanh FBNC cũng thường chọn chỗ này.
"Một thói quen đã hình thành suốt hai thập kỷ đã khó bỏ rồi. Huống hồ SGT Club lại đồng hành với cuộc đời làm báo kinh tế của các thế hệ người làm báo ở SGT Group, như tôi", ông Châu nhớ lại.
Quán cà phê và giải pháp tình thế
Tháng 1/1991, Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG) ra số báo tuần đầu tiên. "Thực ra, tờ tuần báo tiếng Việt lúc đầu chỉ là giải pháp tình thế để chúng tôi xin được giấy phép xuất bản tờ tiếng Anh về kinh tế", ông Châu nói.
Luật Đầu tư nước ngoài ra đời năm 1987. Đầu những năm '90, thành phố HCM, với vị trí địa lý, bối cảnh lịch sử và cả sự đi đầu về tư duy đổi mới, mặc nhiên có vai trò tiên phong trong mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài.
Thế nhưng, qua trao đổi với các doanh nhân Việt Kiều, Phó Chủ tịch UBND Phạm Chánh Trực, người được giao trọng trách này, hiểu rằng thành phố khó có thể thành công được, nếu thông tin về hành lang pháp lý và cơ hội đầu tư không được cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài và Việt Kiều. Ý tưởng về một tờ báo tiếng Anh đã ra đời từ đó.
"Chủ trương mở cửa và hội nhập dù hình thành từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, nhưng sau năm 5 năm nhiều người trong bộ máy chính trị vẫn còn e ngại đủ thứ", ông Châu giải thích lý do tại sao tờ báo tiếng Anh về kinh tế phải mãi đến tháng 10/1991 mới được phép ra số đầu tiên.
"Chúng tôi phải ra trước một tờ tuần báo tiếng Việt, để rồi từ đó thuyết phục các cấp quản lý cho phép dịch 70% nội dung sang tiếng Anh. Còn 30% còn lại, chủ yếu là tin, do chúng tôi tự viết", ông Châu nói.
Thách thức tiếp theo, theo ông Châu, họ đều là những nhà báo chính trị - xã hội, chứ không được đào tạo về kinh tế. Vả lại, những người như ông Trực và bạn ông là Tổng Biên tập Võ Như Lanh - nguyên uỷ viên Hội đồng Biên tập Sài Gòn Giải phóng, đều có những kỷ niệm không mấy vui vẻ với chính trị, nên họ quyết tâm làm một tờ báo kinh tế thuần tuý.
Nhưng cái khó ló cái khôn...
Tình cờ, trong một lần ngồi uống cà phê, những người sáng lập TBKTSG đã nảy ra ý tưởng mở một quán cà phê làm nơi giao lưu giữa các nhà báo với các chuyên gia kinh tế, và giới doanh nhân. Để từ đó các những người tay mơ về kinh tế - kinh doanh như họ có thể làm một tờ báo chuyên nghiệp thực sự.
Gần như cùng một lúc với sự ra đời của tờ tiếng Việt, một quán cà phê trong khuôn viên trụ sở tờ báo cũng ra đời. Sáng sáng, trước khi đến công ty, nhiệm sở, các chuyên gia kinh tế và doanh nhân, đến uống cà phê, ăn sáng, và nói chuyện thời sự, đọc báo. Và, từ đó, mối quan hệ giữa tờ báo và họ đã được thiết lập. Phóng viên có thêm thông tin và bổ sung kiến thức để viết báo.
Cũng nhờ đó, nhiều người đã trở thành cộng tác viên của TBKTSG. Số lượng bài viết của họ đã trên TBKTSG đã từng được SGT Group xuất bản thành hàng chục tập sách. Và, từ một giải pháp tình thế, TBKTSG (tiếng Việt) đã trở thành một thương hiệu lớn. Nhất là trong phân tích và phản biện chính sách.
Trong thời kỳ cực thịnh của báo chí Việt Nam, nhiều người, trong đó có cả bản thân người viết, coi việc có bài được đăng trên TBKTSG như một sự một sự công nhận về nghề nghiệp.
Hơn nữa, từ những buổi ngồi nghe các chuyên gia phân tích, một số phóng viên của TBKTSG đã trở thành những chuyên gia thực thụ trong lĩnh vực mình phụ trách. Hải Lý là một ví dụ tiêu biểu trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, khi các chuyên gia và nhà đầu tư trong lĩnh vực này, nhất là giới trẻ, luôn tìm các bài phân tích của chị để tham khảo.
Sân chơi chuyên nghiệp
Những điều mà tờ báo thu được từ quán cà phê không chỉ có vậy.
"Chúng tôi hiểu rằng để có thể tiếp tục duy trì nơi giao lưu này, cần phải có dân chuyên nghiệp điều hành nó", ông Châu nói.
Một doanh nhân Việt Kiều là Alan Tấn đã hùn vốn để thành lập một nhà hàng liên doanh trên cơ sở quán cà phê đó. Buổi sáng vẫn là quán cà phê bình thường, còn trưa và tối trở thành quán ăn.
Cũng nhờ đó, SGT Group đã mở rộng thêm hoạt động của mình. Họ thường xuyên tổ chức các buổi toạ đàm theo những chủ đề nhất định. "Việc đứng danh nghĩa của SGT Club khiến các buổi toạ đàm diễn ra dễ dàng hơn nhiều", ông Châu nói.
Và những diễn giả tham dự không chỉ bó gọn trong giới học giả hay doanh nhân nữa, mà bao gồm cả các chính khách. Ông Châu cho biết ông Võ Văn Kiệt, nhất là sau khi về hưu, rất hay đến SGT Club để nói chuyện. Về những vấn đề ông thấy bức xúc. Còn trong thập niên 90, các thành viên nhóm Thứ Sáu là những vị khách thường xuyên.
SGT Club còn mời cả những chính khách từ Hà Nội, nhân những chuyến công tác của các vị này vào Sài Gòn. Một trong số đó là nguyên Thứ trưởng ngoại giao Lê Mai - người sau đó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một quán cà phê khác ở Tuần báo Quốc tế ngoài Hà Nội, và định hướng phát triển của tờ báo đối ngoại này.
"Lúc đầu, chúng tôi chỉ mời ông Lê Mai tới uống cà phê. Nhưng thấy nhiều anh em phóng viên, biên tập viên ngồi quanh đó, ông ngẫu hứng nói chuyện thời sự đối ngoại luôn", ông Châu kể lại kỷ niệm với nhà ngoại giao xuất thân từ giới truyền thông này.
Theo thời gian, trong SGT Club lại sinh ra những "club" (câu lạc bộ) nhỏ hơn, mang tính chuyên ngành, như CLB Doanh nhân 20-30, CLB Nông sản, CLB Ý tưởng...
Đặc biệt, một trong những CLB đó lại gắn liền với sự ra đời của một tờ báo khác trong SGT Group, trước khi tách ra để khẳng định hướng đi độc lập của mình. Đó là CLB "Hàng Việt Nam chất lượng cao" và tờ Sài Gòn Tiếp Thị - một tờ báo, tiếp bước TBKTSG thuở trước, đã có nhiều đột phá trong làng báo Sài Gòn mấy năm vừa qua.

Kịch bản nào cho việc gia nhập WTO?

Kịch bản nào cho việc gia nhập WTO?

vietnamnet.vn - 08:38 22-05-2006
(VietNamNet) - Việt Nam và Hoa Kỳ đã kết thúc về mặt nguyên tắc thoả thuận song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO và dự kiến sẽ ký kết chính thức vào đầu tháng 6 tới nhân dịp Tân Chủ tịch USTR Susan Schwab sang dự Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế APEC.
Tuy nhiên, việc gia nhập của Việt Nam vẫn được bỏ ngỏ với 3 khả năng như VietNamNet đã đề cập ở kỳ trước, với một vài sự khác biệt do kết quả cuối cùng của cuộc đàm phán.
1. Gia nhập WTO trước, PNTR sau
“Mỹ vẫn là người cầm trịch cuộc chơi trong đàm phán đa phương nên khó có khả năng Việt Nam được chấp nhận gia nhập WTO mà không cần PNTR và đặt Mỹ ra bên ngoài những lợi ích từ những cam kết trong việc mở cửa thị trường. Hơn nữa, quan hệ về chính trị, kinh tế và lịch sử giữa Việt Nam và Mỹ hoàn toàn khác so với các nước SNG cũ”, một chuyên gia về quan hệ Việt - Mỹ của Bộ ngoại giao nói.
Nếu Việt Nam không thể hoàn thành nốt những thủ tục cần thiết, hay có những trở ngại từ các nhóm khác nhau ở Mỹ, và dự luật PNTR không thể được đưa ra bỏ phiếu tại Quốc Hội trong mùa hè này, Việt Nam đành trông chờ vào cái thông lệ này, đã được Hoa Kỳ áp dụng đối với nhiều nước SNG cũ.
Trong trường hợp này, Hoa Kỳ phải viện dẫn khoản “miễn áp dụng” thuộc Điều 8 của Hiệp định WTO, và nếu như vậy Việt Nam hoàn toàn có quyền ngăn cản Hoa Kỳ hưởng những lợi ích từ những cam kết liên quan đến việc gia nhập tổ chức này.
“Ai cũng biết rằng hầu hết các cam kết WTO đều là BTA plus, nên quan điểm thống nhất của Nhà Trắng và USTR là Việt Nam cần có PNTR trước khi gia nhập WTO”, Bà Virginia Foote, Chủ tịch Hội đồng Thương mại Mỹ - Việt dự báo.
2. PNTR không kịp thông qua vào mùa hè
Nếu điều này xảy ra, Việt Nam chắc chắn phải chờ đến ít nhất giữa năm 2007 mới có thể được kết nạp. Ngay cả khi buộc phải chấp nhận phương án này, việc hoàn tất cả thủ tục cần thiết để có được PNTR cũng không hề đơn giản, nếu không nói là có phần phức tạp hơn so với thời điểm hiện tại.
Ông Chủ tịch Hạ Viện Hastert, người vừa có chuyến thăm Việt Nam tháng trước để “làm rõ” những vấn đề cuối cùng trong quan hệ song phương nói chung trước khi nhận vai trò chủ trì cho cuộc bỏ phiếu thông qua PNTR đối với Việt Nam tại Hạ Viện, đã tuyên bố với cộng đồng doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam rằng “ông kiên quyết thúc đẩy rất mạnh cho việc thông qua này”.
“Với kết quả bầu giữa kỳ tại Hạ Viện, tình hình có thể khác đi, Đảng Cộng hoà có thể không còn chiếm đa số nữa, và Chủ tịch Hạ viện mới có thể là một người khác chứ không phải ông Hastert, và Việt Nam phải lobby lại từ đầu”, ông Thomas O’Dore, Chủ tịch Amcham Vietnam, nhận xét.
Ông O’Dore còn cho biết thêm rằng tất cả những nỗ lực đưa các đoàn nghị sĩ sang tìm hiểu tình hình ở Việt Nam trong vòng một năm trở lại sẽ không còn hiệu quả nếu việc bỏ phiếu bị hoãn lại, bởi những cảm giác “nóng hổi” về Việt Nam sẽ bị “nguội lạnh” theo thời gian, và bởi những mối quan tâm khác.
Bà Virginia Foote thậm chí còn đi xa hơn trong việc bày tỏ những lo ngại của mình. Theo Bà Foote động lực cho việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ giảm đi nếu vấn đề PNTR không được thông qua trước kỳ nghỉ của Quốc hội.
“Đến lúc đó tôi lại e rằng"trò chỉ trích lẫn nhau"lại tái xuất hiện, với mức độ còn ác liệt hơn cuối năm ngoái, bởi vấn đề này không còn chỉ liên quan đến Chính phủ nữa, mà cả Quốc hội và các cộng đồng lợi ích khác nhau nữa”, Bà Foote cảnh báo.
Như vậy, Việt Nam và những người ủng hộ việc Việt Nam gia nhập WTO có lẽ không còn sự lựa chọn “kịch bản” nào tối ưu hơn, ngoài việc tập trung hết sức lực cho việc vận động Quốc hội Mỹ thông qua PNTR trong mấy tháng tới .
Vai trò của Chính Phủ Mỹ
Khi đánh gia về khả năng thông qua PNTR tại quốc hội Mỹ, mở đường cho việc Việt Nam gia nhập WTO, các đại diện của cả nền hành pháp lập pháp và công đồng doanh nghiệp Mỹ đều khẳng định rằng “a good trade deal” (một bản thoả thuận tốt) là yếu tố quan trọng nhất, mặc dù mối quan hệ tổng thể giữa hai nước bao gồm cả những vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, tự do tôn giáo đều được tính đến.
Sự căng thẳng đến mức “cuộc đàm phán có thể bị đổ vỡ” như báo chí ta tường thuật, cũng như lời tuyên bố của Đại sứ Portman rằng “đây là một bản thoả thuận rất tốt cho nước Mỹ”, đã chứng tỏ rằng đoàn đàm phán, đại diện cho Chính phủ Mỹ, đã “cố gắng hết mức có thể” để bảo vệ các quyền lợi của nước Mỹ.
“Sau khi mọi thứ đã kết thúc, những phân tích, lý lẽ và lập trường mà phía Việt Nam đưa ra để bảo vệ lợi ích của mình, nhất là trong vấn đề hạn ngạch dệt may, rõ ràng sẽ giúp thêm căn cứ cho Chính phủ Mỹ khi phải bảo vệ thoả thuận này trước quốc hội, cũng như giải thích với các nhóm được coi là bị thua thiệt”, một thành viên trong đoàn đàm phán của Việt Nam nhận xét.
Đại sứ Michael Marine cho biết việc rút Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, được hy vọng sẽ có tác động tích cực đến quá trình thông qua PNTR tại Quốc Hội, dự kiến sẽ được Bộ Ngoại Giao Mỹ quyết định vào một thời điểm gần với cuộc bỏ phiếu này.
“Theo tôi hiểu có những người tại Quốc Hội sẽ chỉ trích Việt Nam về những vấn đề như tự do tôn giáo, giam giữ các tù nhân “lương tâm’, hay quản lý Internet... Nhưng tôi tin rằng có những bằng chứng rằng tình hình đang được cải thiện, và sự tiếp tục cải thiện sẽ át đi được sự chỉ trích này”, Đại sứ Marine nói.
Theo nguồn tin của Sứ quán Việt Nam tại Washington vào tháng 11 năm ngoái, khi mà tiến trình đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đang gặp phải bế tắc, các luật sư của Quốc hội Mỹ đã bắt đầu tiếp xúc với các tài liệu đàm phán. Kể từ đó mọi quan điểm và mục tiêu đàm phán của phái đoàn Mỹ đều có sự tham vấn chặt chẽ với Quốc hội.
“Chính phủ Mỹ không thể bị"mất mặt"theo kiểu: good news là đạt được thoả thuận và bad news là Quốc hội không thông qua, và, cũng chính vì vậy, khi đã thoả thuận xong họ sẽ sử dụng mọi kênh của mình để thuyết phục quốc hội thông qua”, Giáo sư Martin Swarch của Trường Đại học Virginia, chuyên gia hàng đầu về toàn cầu hoá, nhận xét.
Hơn nữa, với vai trò “lãnh ấn tiên phong” trong việc thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, và cách tiến hành đàm phán những vấn đề song phương và đa phương cùng một lúc với thoả thuận “cả gói” cho cả hai loại vấn đề, Mỹ được hy vọng sẽ thúc đẩy nhanh hơn việc kết thúc về nguyên tắc đàm phán đa phương - một điều kiện quan trọng khác để vấn đề PNTR được đưa ra bỏ phiếu tại Quốc hội.

Doanh nghiệp Mỹ vào cuộc

Ngay trước khi Việt Nam và Mỹ bước vào vòn đàm phán cuối cùng, một Liên minh Ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO đã được thành lập với sự tham gia của nhiều tập đoàn công ty, nghiệp đoàn lớn của Mỹ.
“Với những điều khoản khá lạc quan về điều kiện mở cửa thị trường Việt Nam cho các doanh nghiệp Mỹ đã được tiết lộ có lẽ đa số các doanh nghiệp Mỹ, tất nhiên trừ những nhà sản xuất dệt may, hay thuỷ sản, sẽ ủng hộ mạnh mẽ cho việc thông qua PNTR”, ông O’Dore nhận định.
Theo ông O’Dore sự liên kết tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp Mỹ là một “thông điệp mạnh mẽ” đối với Quốc Hội Mỹ về lợi ích của nền kinh tế Mỹ trong việc Việt Nam gia nhập WTO.

soạn: am 782873 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Ông Andre Sauvageot.
Trong danh sách nhân sự của Fontheim có một cái tên không xa lạ với nhiều người Việt Nam: Đó là Cố vấn cao cấp Andre Sauvageot, người hay được gọi là “Người Mỹ An Nam” bởi khả năng trích dẫn cả ca dao, tục ngữ và cả nghị quyết TW và BCT, cũng như nghị định CP, rất chính xác của ông.
Từ năm 1997 đến 2002, với tư cách là Trưởng Đại diện của General Electric tại Việt Nam, ông đã có những bản trình bày đầy luận cứ và sức thuyết phục tại Tiểu Ban Thương Mại thuộc Uỷ Ban Chính sách Tài chính Hạ viện Mỹ liên quan đến tạm dỡ bỏ Tu chính án Jackson-Vanik cho Việt Nam.
Được biết, những tập đoàn công ty lớn của Mỹ đều có “người của mình” ở cả hai viện. Vì vậy, ngoài hoạt động “lobby” đơn lẻ của từng tập đoàn thông qua sự liên lạc thường xuyên của các quan chức phụ trách PR của họ với văn phòng các nghị sĩ, việc thành lập một network, sự chia sẻ thông tin và phối hợp giữa họ với nhau rõ ràng đã “phủ sóng được toàn bộ Washington”.
Bản thân ông O’Dore sẽ về Washington vào 11 tháng 6 tới cùng với một số thành viên khác của Amcham Vietnam và ở lại đó khoảng 1 tuần. Với tư cách là những người từ “thực địa”, họ sẽ gặp gỡ những nhân vật chủ chốt của hai viện để thuyết phục những người này thúc đẩy việc thông qua PNTR.
“Những người Mỹ như chúng tôi hiểu rõ thực tế ở Việt Nam và chắc chắn tiếng nói của chúng tôi phải có một sức nặng nào đó đối với Quốc Hội”, ông O’Dore quả quyết.
Có một điều đặc biệt nữa là trong danh sách những thành viên của Liên minh này còn có Công ty Fontheim International, một cái tên khá nổi tiếng không chỉ ở Mỹ mà còn ở Trung Quốc và Singapore. Chính Fontheim International đã lobby thành công cho Trung Quốc liên quan đến PNTR, và Singapore trong việc thoả thuận được Hiệp định Thương mại Tự do với Mỹ.
Đến thời điểm này chưa biết Fontheim sẽ tham gia tham gia lobby như thế nào (bởi Chính phủ Việt Nam vẫn chưa quyết định bỏ tiền ra thuê lobby), nhưng sự tham gia của một “pro” như Andre Sauvageot rõ ràng sẽ làm cho hoạt động “lobby” chung của cả Liên minh hiệu quả hơn nhiều.
  • Huỳnh Phan

Lobby quốc hội Mỹ - đàm phán WTO sẽ nhanh hơn?

Lobby quốc hội Mỹ - đàm phán WTO sẽ nhanh hơn?

Chủ nhật, 19 Tháng hai 2006, 16:28 GMT+7

-Đã có lúc người ta nuối tiếc : giả sử như biết cách vận động hành lang với Mỹ thì chắc hẳn, giờ này Việt Nam đã có tấm vé lên con tàu WTO.


Lobby quoc hoi My - dam phan WTO se nhanh hon?

Giáo sư Martin Schwarzt: "Việt Nam cần phải hiểu cái cách vận hành của nền chính trị Mỹ".

Cho dù tiến trình đàm phán song phương Việt Mỹ về WTO đang tiến triển tới mức, hôm 16/2, một thượng sĩ Mỹ đã phát biểu : "Tôi hài lòng được biết đàm phán với VN và Ukraine về gia nhập WTO sắp hoàn tất", song chưa đến lúc để nói mọi chuyện đã xong xuôi, nhất là khi

Mỹ vẫn đang "treo" việc thông qua qui chế PNTR dành cho VN ít nhất tới trước kỳ nghỉ của Quốc hội Mỹ vào tháng 8/2006.

Dự kiến, đoàn đàm phán Việt - Mỹ sẽ gặp nhau tại Washington tháng ba tới và nhiều khả năng Việt Nam sẽ thành công trên bàn đàm phán lần này. Dù vậy, trước thời điểm này không lâu, người ta đã thực sự lo ngại khi thấy tiến trình đàm phán giữa hai bên gần như "đóng băng", và không ít ý kiến đã tỏ ra nuối tiếc: giả sử như chúng ta biết cách vận động hành lang (lobby) với Mỹ thì chắc hẳn, giờ này Việt Nam đã có tấm vé lên chiếc tàu WTO .

Bỏ qua những bê bối trên chính trường Mỹ do sự thao túng của các nhà vận động hành lang nước này gây ra, xin thử bàn chuyện đi lobby Quốc hội Mỹ để hiểu phần nào về thủ pháp thương lượng với chính quyền Washington.

TS đã trao đổi với Giáo sư Martin Schwarzt từ Trường Đại Học Virginia (Hoa kỳ), chuyên gia về toàn cầu hoá và tác giả cuốn sách nổi tiếng “The Global Market” (Thị trường toàn cầu), được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1994 và hiện đã được dịch ra một số thứ tiếng khác về chủ đề này.

Tiến trình đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO với Hoa Kỳ đang rất khả quan, tuy nhiên, trước đó, hai bên đều quan ngại về khả năng bế tắc trong đàm phán. Ông có bình luận gì về việc này?

Đàm phán gia nhập WTO cũng giống bất cứ một cuộc đàm phán nào khác, tức là phải có sự mặc cả.

Nếu anh ra chợ mua cam, người bán cam đòi 15 ngàn VND cho một cân cam. Anh thấy cao, anh có thể trả dần 5 ngàn. và cái giá cuối cùng anh sẽ mua sẽ nằm trong khoảng giữa 5 ngàn và 15 ngàn. Đàm phán WTO cũng như vậy, chẳng có điều kiện nào là bất di bất dịch cả, bởi qui định của WTO chẳng phải là hiệp ước hay luật lệ chung gì cả, nó đơn thuần là một cuộc mặc cả không hơn không kém.

Trước đây, phía Mỹ rõ ràng muốn đòi hỏi rất nhiều điều mà Việt Nam không thể nhượng bộ. Mặt khác, Việt Nam cũng không thể nào nói với phía Mỹ rằng chúng tôi nghèo hơn, chậm phát triển hơn các ông nên việc các ông phải hy sinh quyền lợi cho chúng tôi là lẽ đương nhiên.

Cho dù kết quả đàm phán giữa hai nước khiến người ta lạc quan hơn, song nhiều ý kiến đã cho rằng, việc USTR đòi hỏi quá cao từ phía Việt Nam là do sức ép của quốc hội và những nhóm lợi ích khác nhau ở Mỹ, xuất phát từ nỗi e ngại rằng Việt Nam sẽ được lợi hơn Mỹ trong việc Việt Nam gia nhập WTO?

Trước hết, anh phải hiểu cơ chế chính trị ở Mỹ nó vận hành như thế nào. Tôi vẫn cho rằng Chính phủ Mỹ muốn Việt Nam gia nhập WTO vì nó có lợi cho nền kinh tế Mỹ nói chung và trên cả quan điểm chiến lược.

Thế nhưng, kinh tế thị trường có nghĩa có người được kẻ mất. Nền chính trị ở Mỹ lại cho phép kẻ thua thiệt được phép phủ quyết, chẳng hạn như liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO chẳng hạn.

Trong trường hợp Việt Nam, bộ phận ở Mỹ chịu thua thiệt hay tổn thương nhiều nhất lại chính là bộ phận có đại diện là các chính khách uy quyền nhất tại cả hai viện trong quốc hội. Ý tôi muốn nói đến những mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu của Việt Nam sang thị trường Mỹ như catfish, tôm, và kể cả dệt may.

Ở Mỹ các trại nuôi catfish chủ yếu nằm ở các bang miền Nam vốn rất quan trọng với Đảng đang điều hành nước Mỹ hiện nay là Đảng Cộng hoà.

Chẳng hạn như bang Mississippi có hai thượng nghị sĩ đầy quyền lực, và một trong hai người này chính là ông Trend Lott, người được coi là có ảnh hưởng lớn nhất ở Thượng viện từ vài năm trở lại đây.

Mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam đã cạnh tranh với sản phẩm này của bang, và câu chuyện tương tự cũng xảy ra khi một chính khách quan trọng của bang này chính là người phát ngôn của hạ viện(?).

Chính khách được bầu bởi vì họ nhận được phiếu ủng hộ từ các bang của họ và tiền quyên góp cho chiến dịch tranh cử từ các công ty tại các bang này. Họ có nghĩa vụ phải bảo vệ quyền lợi cử tri và các nhà tài trợ, và hy vọng được hưởng lợi từ hành động này khi tái tranh cử.

Khi Việt Nam gia nhập WTO và hàng xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh trực tiếp với các bang này, những nghị sĩ ở đó gây sức ép với bên hành pháp và các nhà đàm phán của Tổng thống để đặt ra các điều kiện khắt khe với Việt Nam, mà thực chất là để tránh sự cạnh tranh trực tiếp từ Việt Nam.

Ngoài ra, còn có một vấn đề khác về khía cạnh tâm lý nữa, đó là những người câu tôm ở phần lớn là người dân tị nạn Việt Nam ra đi từ năm 1975. Rất dễ hiểu rằng, bất chấp họ đúng hay sai trong cuộc chiến đó, họ có một cảm giác nặng nề đối với những gì diễn ra ở Việt Nam. Và điều này khiến cho cuộc mặc cả mang thêm cả sắc thái khác.

Sự ác cảm của những cử tri gốc Việt này tác động đến các chính khách ở Texas, cũng như ở Louisiana, nơi có rất nhiều người Mỹ gốc Việt sinh sống. Ở Mỹ các chính khách thường rất nhạy bén trong ứng xử với những nhóm xã hội có tổ chức. Lại thêm một sức ép nữa lên các nhà đàm phán.

Ông đánh giá thế nào về vai trò của Tổng thống Bush trong việc thúc đẩy đàm phán với Việt Nam? Chẳng gì Bush cũng đã có một lời hứa mang đầy hy vọng cho phía Việt Nam?

Ở Mỹ nếu Tổng thống muốn đưa ra một đạo luật nào đó, ông ta yêu cầu các luật sư của mình soạn thảo, trình quốc hội, và phải tìm mọi cách vận động quốc hội thông qua.

Trong vấn đề đàm phán WTO với Việt Nam, cho dù Tổng thống có toàn quyền, ông ta cũng không thể nói với Quốc hội theo kiểu sau đây: “Các ông không hài lòng với kết quả đàm phán WTO với Việt Nam ư? Các ông muốn ngăn cản chuyện này ư? Nhưng các ông có liên quan gì ở đây đâu, khép miệng lại và đi đi!”

Vì sao ư? Bởi vì khi Tổng thống sau đó nếu có việc cần quốc hội, quốc hội có thể từ chối để phản ứng lại.

Như vậy, trong nhiều trường hợp liên quan đến quốc hội, Tổng thống buộc phải có những quyết định mang tính “đổi chác”. Và rõ ràng là trong năm vừa rồi, Tổng thống có nhiều vấn đề nội bộ cần phải “nhờ vả” Quốc hội.

Lúc đầu ông nói mọi thứ có thể mặc cả được, nhưng có vẻ như rất khó tìm được sự nhượng bộ từ những nguời gây sức ép này. Nhưng chắc chắn phải có lối thoát ở đâu đó chứ, thưa ông?

Việt Nam cần phải hiểu cái cách vận hành của nền chính trị Mỹ. Thủ pháp thường được áp dụng khi phải đối mặt với những nhóm có tổ chức là thuê một công ty lobby (vận động hành lang) chuyên nghiệp. Nếu như anh tìm hiểu lại những gì Hàn Quốc đã làm vào những năm ’60 và ’70, hay Đài Loan vào những năm ’60 và ’70, của thế kỷ trước, anh sẽ thấy họ đã thuê những nhà lobby chuyên nghiệp để tác động đến các chính khách Mỹ.

Trung Quốc cũng làm vậy trong quá trình gia nhập WTO, hay gần đây nhất là Singapore khi muốn ký Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Mỹ.

Việt Nam có thể thuê các nhà lobby chuyên nghiệp để gây sức ép với thượng viện, tương tự như những nông dân nuôi catfish đã làm để gây sức ép lên hạ viện. Đó là cái cách mà người ta thường áp dụng để cân bằng các nhóm có xung đột về lợi ích ở Mỹ.

Giả sử kết quả đàm phán Việt - Mỹ về WTO không lạc quan như hiện tại và chúng tôi phải tìm một cách thương lượng có vẻ hiệu quả hơn là vận động hành lang. Ông có thể gợi ý cụ thể về những điều Việt Nam cần làm trong quá trình lobby?

Thế này, tháng 11 tới ở nước Mỹ chúng tôi có bầu cử hạ viện. Về nguyên tắc các ứng cử viên trong mỗi quyết định hay hành động của mình bao giờ cũng tính tới số phiếu bầu.

Người Việt Nam trong nước các bạn không tham gia bầu cử ở Mỹ, và như vậy việc gì phải tính đến phiếu bầu của Việt đúng không? Nhưng không hẳn như vậy! Tại sao ư? Nhà lobby chuyên nghiệp sẽ nói với hạ nghị sĩ ở một bang có ngành công nghiệp viễn thông phát triển: “Hãy nhìn đây, tất cả các công ty này và công nhân tại thành phố của ông, hay bang của ông, họ đang sản xuất thiết bị viễn thông xuất khẩu sang Việt Nam. Nếu họ bán được hàng ở thị trường Việt Nam, họ sẽ cảm thấy hài lòng.”

"Nhưng trước khi người Việt Nam có thể có tiền mua được thiết bị viễn thông của Mỹ, phải để cho họ xuất khẩu catfish, tôm, hay hàng dệt may sang đây. Còn nếu không lợi ích của công ty và người lao động sẽ bị tổn thương”, nhà lobby có thể tiếp tục như vậy.

Vị hạ nghị sĩ kia sẽ ủng hộ cho việc Việt Nam gia nhập WTO, không phải vì quyền lợi của Mỹ, hay Việt Nam, mà bởi vì tiền đóng góp cho chiến dịch tranh cử và số phiếu của cử tri tại khu vực có công ty đó.

Đến gần kỳ bầu cử hạ nghị sĩ đó sẽ đến gặp gỡ công ty viễn thông đó, cũng như người lao động tại đó, và nói: “Tôi đã nỗ lực hết sức để thúc đấy vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam, và nhờ thế mà năm tới công ty các bạn có thể kiếm được hàng chục triệu đô la lợi nhuận từ việc xuất khẩu sang Việt Nam".

Kết quả là công ty cũng hài lòng, người lao động cũng hài lòng, và vị hạ nghị sĩ kia cũng hài lòng vì ông ta kiếm đủ số phiếu để tái cử.

Ông có nghĩ rằng khi Việt Nam đã kết thúc xong đàm phán song phương với Mỹ, liệu có nhiều sự cản trở từ Quốc hội Mỹ trong việc thông qua PNTR hay không?

Cái cách mà quốc hội Mỹ vận hành là một vài nghị sĩ có quyền lực có thể ngăn cản một bộ luật được thông qua. Những nghị sĩ này có thể đại diện cho những bang đang ở trong nguy cơ phải cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam.

Rất tiếc, như tôi đã nói, là những nghị sĩ quyền lực lại đến từ những bang đang cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam. Đó là những bang miền Nam, nghèo nhất nước Mỹ, bởi họ, cũng như Việt Nam, sản xuất những mặt hàng có năng suất và giá trị gia tăng thấp như dệt may, và chế biến thực phẩm.

Nuôi catfish đỏi hỏi nhiều vốn, nhưng chế biến catfish lại đòi hỏi nhiều lao động. Thường thì các chủ trang trại Mỹ trả cho công nhân của họ 5 đô la một giờ, trong khi đó một nhà máy ở Việt Nam chỉ phải trả khoảng 30-50 cent thôi.

Những chủ trang trại này và công nhân của họ không thể cạnh tranh với catfish của Việt Nam, chính vì vậy việc Việt Nam vào WTO thực sự là một vấn đề lớn với họ.

Như vậy, Việt Nam cần phải tập trung lobby Quốc hội?

Bất cứ ai, chứ không chỉ các nghị sĩ quốc hội. Ở Mỹ chỉ có Toà án là không thể lobby mà thôi.

Nếu muốn lobby Tổng thống, bạn phải chỉ ra những lĩnh vực trong cả nền kinh tế có lợi ích với việc mở cửa thị truờng Việt Nam. Đó là ngành chế tạo máy bay (Boeing), viễn thông, xây dựng (phát triển cảng), hay chế tạo nhà máy điện (General Electric).

Quay trở lại vói những năm \'90 của thế kỷ trước dưới thời Tổng thống Clinton, chúng ta thấy có một chính sách là “bất kỳ cái gì mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, cũng mang lại lợi ích cho nhà nước".

Chính phủ của ông Clinton nêu ra 10 thị trường mới nổi lên, và chính sách của họ là mở cửa thị trường Mỹ cho hàng xuất khẩu từ những nước như Trung Quốc, Ấn độ, Indonesia...

Tôi không rõ là Việt Nam có nằm trong số 10 thị trường này không khi chính quyền Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, nhưng ý tưởng ở đây vẫn thế:

Mở cửa thị trường cho hàng hoá rẻ từ Việt Nam như giày dép, quần áo, đồ gỗ, vào Mỹ, và đổi lại vì nhu cầu mở rộng nề kinh tế Việt Nam sẽ phải cần nhiều điện, tổng đài điện thoại di động, máy bay, bến cảng, hay máy móc, và họ có thể sẽ nhập từ Mỹ.

Tất nhiên chính quyền Clinton chẳng bao giờ kiếm phiếu được từ các bang miền Nam nên họ chỉ quan tâm đến các bang có Boeing, GE, Backtown (một công ty phát triển hạ tầng lớn), công ty viễn thông, hay dược phẩm...

Còn đối với các nghị sĩ của hay California, nhà lobby có thể nói rằng: "Các nghị sĩ ở các bang miền Nam đang cố gắng ngăn cản việc Việt Nam gia nhập WTO. Ông phải là đối trọng đối với họ, để chứng minh rằng các nghị sĩ ở California và Washington không hề kém thế hơn các nghị sĩ của các bang miền Nam"...

Đón đọc:Hội nhập và cơ hội làm giàu


Hãy làm những gì các nước phát triển đang làm, chứ đừng làm những gì những nước kém phát triển hơn đang chiếm ưu thế trên thị trường. Tôi muốn nhấn mạnh một điều là, Việt Nam nghèo không phải vì người dân lười biếng, trái lại họ rất siêng năng. Nhưng điều quan trọng là lao động của họ lại kém hiệu quả, năng suất và khả năng sinh lợi thấp.


  • Huỳnh Phan

Tuần tới, sẽ có tuyên bố quan trọng về WTO?

Thứ sáu, 13 Tháng một 2006, 07:09 GMT+7
  • Cỡ chữ

Tuần tới, sẽ có tuyên bố quan trọng về WTO?

"Việc phái đoàn đại diện thương mại Mỹ sẽ đến Việt Nam để tiếp tục đàm phán, chứng tỏ phía Việt Nam đã làm được điều gì đó có ý nghĩa trong bản chào mới. Một khi họ quay lại đây, đồng nghĩa với việc một điều gì đó có ý nghĩa lớn về WTO đã được thực hiện".

Liệu chuyến công tác Việt Nam của phái đoàn Mỹ lần này có là cú hích cuối cùng để đi tới những thoả thuận quan trọng trên bàn đàm phán WTO giữa Việt Nam và đối tác "gai góc" nhất của mình? Ông Thomas O’Dore, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ (Amcham) tại Việt Nam, đã có cuộc trao đổi với TS về những cơ hội mới gia nhập WTO của Việt Nam.

"Sao đàm phán với Mỹ khó thế?"

Tuan toi, se co tuyen bo quan trong ve WTO?

Thomas O’Dore: "15 năm sau vị thế Việt Nam sẽ khác, sẽ trở thành một thế lực kinh tế mạnh".

Xin ông cho biết, tại sao đàm phán với Mỹ lại khó như vậy, trong khi với các đối tác quan trọng khác trong WTO, như EU chẳng hạn, mọi việc diễn ra khá nhanh?

Nói chung, đối với bất kỳ nước nào tham gia đàm phán, những điều khoản cuối cùng bao giờ cũng khó khăn nhất. Hơn nữa, Mỹ lại coi mình là người có trách nhiệm lớn ở nhiều lĩnh vực, trong đó có thương mại toàn cầu, và phải có sứ mạng phải hoàn thiện cơ chế của nó.

Có một điều gần như thành thông lệ rồi là bất kỳ cái gì mà Mỹ đòi hỏi trong đàm phán, cả thế giới đều được hưởng. Rất nhiều đối tác WTO đã kết thúc đàm phán với Việt Nam, họ nhanh chóng đạt được cái họ cần và kết thúc sớm với Việt Nam, và để lại gánh nặng cho Mỹ. Họ được tiếng là thiện chí, là good guys, còn Mỹ lại mang tiếng là tough guy.

Chúng ta cũng phải hiểu rằng việc thoả thuận WTO, cũng như BTA, với Việt Nam, là cơ hội cuối cùng của từng đối tác thương mại, bởi một khi đã được ký, cơ chế này nó sẽ tồn tại cả mấy chục năm sau, thậm chí cả thế kỷ. Lúc này thì Việt Nam đang là một nước kém phát triển, nhưng 15 năm sau vị thế Việt Nam sẽ khác, sẽ trở thành một thế lực kinh tế mạnh.

Như vậy người ta không thể quá nhượng bộ với Việt Nam trong lúc này để có thể bị thiệt thòi trong quan hệ với Việt Nam 15 năm về sau, bởi vẫn những điều khoản như vậy trong thoả thuận thương mại được áp dụng.

Việt Nam cũng phải hiểu rằng các nhà đàm phán không chỉ nhìn vào Việt Nam bây giờ, mà họ nhìn vào Việt Nam 10, 15, 20 năm tiếp theo, và sự đòi hỏi nếu có cao là theo quan điểm như vậy.

Nhưng dù sao vẫn có lộ trình mở cửa thị trường để thực hiện điều đó theo sự lớn mạnh dần của nền kinh tế Việt Nam cơ mà?

Rắc rối ở đây là Trung Quốc cũng yêu cầu nhượng bộ cho họ, nhưng rồi cả thế giới “phát sốt” lên vì họ, sau khi chấp nhận cho họ thực hiện dần theo lộ trình. Họ có thực hiện một số điều đã cam kết đâu.

Không riêng gì Việt Nam, mà cả Nga và một vài nước khác muốn gia nhập WTO, cũng gặp phải những khó khăn lớn hơn vì chuyện Trung Quốc. Như vậy, Việt Nam càng phải chứng tỏ là mình sẽ tuân thủ các cam kết WTO bằng cách thực hiện những gì đã cam kết trong BTA, trước khi hai bên có thể tiến về phía trước.

Nhưng rõ ràng Việt Nam không phải là Trung Quốc, cái gọi là “nguy cơ” từ Việt Nam rõ ràng chưa là gì so với Trung Quốc cả?

Tất nhiên không thể so sánh qui mô nền kinh tế của hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng ai mà biết được Việt Nam sẽ phát triển như thế nào 10 năm, 15, hay 20 năm sau này.

Tất nhiên ở Mỹ không ai tin rằng toàn bộ nền kinh tế Việt Nam khi lớn mạnh sẽ cạnh tranh với Mỹ, nhưng nếu chúng ta phân chia thành từng ngành kinh tế nhỏ như dệt may, thuỷ sản, cà phê, cao su, hay đồ gỗ... thì rõ ràng những ngành này, nhất là dệt may, đều gây ra nguy cơ cướp đi việc làm ở Mỹ.

Khi Quốc hội Mỹ bỏ phiếu thông qua PNTR, từng nghị sĩ sẽ bị ảnh hưởng của cử tri của họ, có thể là nông dân, người chế biến thuỷ sản, công nhân may mặc, và cũng có thể là những nhà sản xuất đồ gỗ... Như vậy, từng ngành kinh tế liên quan sẽ có quan điểm khác nhau, chứ không phải cả nền kinh tế.

Sẽ có một tuyên bố quan trọng vào cuối tuần tới?

Có ý kiến cho rằng, riêng việc hai bên nhất trí tại Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Hồng Kông là thôi không chỉ trích nhau trên báo chí nữa và nối lại đàm phán, đã là một động thái tích cực?

Nói chung thì khi một bên có bình luận thì bên kia chắc chắn sẽ lên tiếng đáp lại. Tôi cũng chẳng biết bên nào khởi xướng trước trò chơi “tit for tat” (ăn miếng trả miếng) này. Có điều cả hai bên đều không đưa ra cái gì cụ thể cả, họ đều nói rất chung chung.

Trong đàm phán đôi khi người ta dùng báo chí để gây sức ép cho bên kia, tranh thủ báo chí để tạo dư luận. Nhưng nếu không có chừng mực thì sẽ rất nguy hiểm, bởi với việc bình luận về thái độ của nhau họ sẽ gián tiếp gây cản trở cho không khí đàm phán.

Tôi cho rằng lẽ ra cả hai bên không nên làm vậy. Nhưng cũng nên hiểu rằng có lẽ việc đặt ra thời hạn kết thúc đàm phán khiến người ta chịu áp lực rất lớn, và, khi thực tế không như chờ đợi, người ta dễ có phản ứng như vậy. Kết thúc những phát biểu ngoài lề và nối lại đàm phán là cách tốt nhất để nhanh chóng kết thúc nó.

Ông đánh giá thế nào về chuyến đi của phái đoàn đại diện thương mại Mỹ (USTR) lần này?

Họ đến Việt Nam để tiếp tục đàm phán có nghĩa là phía Việt Nam đã làm được điều gì đó có ý nghĩa trong bản chào mới. Tôi hy vọng sẽ có một tuyên bố quan trọng được đưa ra sau vòng đàm phán này.

Tôi đã thực sự chờ đợi họ quay lại đây vào tháng 1, bởi một khi họ quay lại đây, đồng nghĩa với một điều gì đó có ý nghĩa lớn đã được thực hiện. Chúng ta không biết Việt Nam đã đưa ra bản chào thế nào, nhưng rõ ràng họ đã thu hút được sự quan tâm của USTR.

Ông có tin chắc rằng Việt Nam đã có động thái tích cực nào đó đáp lại thông điệp của Tổng thống Bush do ông Thứ trưởng Thương mại Sampson chuyển tới hồi cuối tháng 11 vừa qua?

Có chứ. Tôi hy vọng rằng thông điệp đã đủ rõ ràng đối với phía Việt Nam. Chúng ta phải tìm hiểu xem cái gì sẽ diễn ra vào tuần tới. Rất tiếc là cả hai phía đều quá tiết kiệm lời về những gì đang diễn ra. Cũng có lẽ vì cuộc đàm phán này quá nhạy cảm và khó khăn.

Thêm một cơ hội từ cuộc bầu cử Quốc hội Mỹ

Tuan toi, se co tuyen bo quan trong ve WTO?

Ông Thomas O’Dore cùng Thứ trưởng Thương mại Mỹ Sampson.

Tại sao ông hy vọng sẽ có một tuyên bố quan trọng sẽ được đưa vào cuối tuần tới?

Nếu Việt Nam muốn gia nhập WTO trong năm nay, thậm chí là cuối năm, họ phải kết thúc đàm phán song phương với Mỹ ngay trong quý 1, và cố gắng làm sao để vấn đề Qui chế Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) được đưa vào lịch trình xem xét và thông qua ở Quốc hội không muộn hơn cuối tháng 6. Mặc dù đây cũng là một khe cửa hẹp.

Còn sau đó tôi chắc rằng chẳng ai muốn nghe về chuyện này nữa, tất nhiên là cho tới đầu năm sau, khi đã xong xuôi chuyện bầu cử Quốc hội. Đến lúc đó ai biết được lại có chuyện bất thường gì xảy ra, và một loạt vấn đề lại bị gác lại như năm 2005.

Nhưng cuộc bầu cử Quốc hội Mỹ đến tháng 11 mới diễn ra?

Cuộc vận động tranh cử thực chất đã bắt đầu, chiến dịch gõ cửa các nơi đã bắt đầu, những tờ rơi về chương trình hành động đã được nhét vào các khe cửa, hay rải đi các nơi.

Hiện nay ở Mỹ quốc hội là do Đảng Cộng hoà kiểm soát, và đảng này đang gặp phải rất nhiều vấn đề gây tranh cãi, ngay cả chính sách của Tổng thống Bush cũng không phải được các cử tri Đảng Cộng hoà ủng hộ nhiều. Vì vậy, việc sắp xếp được lịch trình cho vấn đề PNTR đối với Việt Nam là không hề đơn giản.

Việt Nam rất quan trọng đối với cộng đồng doanh nghiệp Mỹ ở Việt Nam, cũng như những doanh nghiệp đang nhòm ngó vào thị trường này, nhưng đáng tiếc lại không phải là vấn đề lớn đáng quan tâm đối với các cử tri Mỹ ở những nơi như miền Trung nước Mỹ, vốn chủ yếu là nông dân.

Những vấn đề bên ngoài nước Mỹ như vấn đề WTO của Việt Nam, nhất là nó lại có nguy cơ gây ra nạn thất nghiệp, sẽ không hề được quan tâm gần thời điểm bầu cử Quốc hội. Cử tri đã không quan tâm thì nghị sĩ cũng vậy. Như vậy thời điểm vận động cho PNTR gần với thời điểm bầu cử sẽ không hề có lợi cho Việt Nam.

Sự ủng hộ của Tổng thống Mỹ

Khi Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Hoa Kỳ tháng 6 năm ngoái, Tổng thống Bush có bày tỏ sự ủng hộ Việt Nam tham gia WTO. Thế nhưng từ đó đến nay hầu như không có tiến bộ đáng kể nào trong đàm phán. Vậy nên hiểu sự “ủng hộ” của Tổng thống như thế nào?

Thứ nhất Tổng thống Bush có nói với Thủ tướng Phan Văn Khải là ông sẵn sàng ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO. Điều đó không có nghĩa là ông có thể tác động đến quá trình đàm phán. Điều này phải làm từ dưới lên. Điều ông nói có nghĩa là sau khi Việt Nam kết thúc đàm phán với Mỹ, vấn đề PNTR được Quốc hội bỏ phiếu thông qua, thì Tổng thống sẽ đứng đằng sau cuộc bỏ phiếu này.

Tuan toi, se co tuyen bo quan trong ve WTO?

Trong chuyến thăm Mỹ của đoàn Thủ tướng Phan Văn Khải, Tổng thống Bush đã tuyên bố sẽ ủng hộ VN gia nhập WTO.

Điều này thực sự khá bất ngờ với nhiều người Việt Nam, kể cả một số quan chức mà tôi tiếp xúc. Chúng tôi cứ ngỡ rằng với tuyên bố như vậy, ông sẽ bằng cách này hay cách khác tác động vào quá trình đàm phán để thúc đẩy nó.

Ít nhất là theo cái cách mà nền chính trị của chúng tôi được xác lập, Tổng thống không thể tác động được vào quá trình này. Theo Hiến pháp Hoa Kỳ có sự phân định rõ ràng về trách nhiệm, ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề gì. USTR có trách nhiệm với việc tạo ra một khuôn khổ quan hệ thương mại trọn gói để Quốc hội có thể chấp nhận được.

Tổng thống có thể nói với Quốc hội: “Tôi ủng hộ PNTR cho Việt Nam”. Nhưng rút cục lại mọi nguời phải tự mình giải quyết phần việc của mình theo tuần tự từ dưới lên.

Ta có thể tìm thấy sự tương tự ở Việt Nam. Ngài Thủ tướng có thể tuyên bố đơn giản hoá thủ tục hải quan để các nhà nhập khẩu có thể dễ dàng đưa hàng hoá vào Việt Nam, thế nhưng phía hải quan lại thực hiện theo cái cách họ muốn thực hiện, bất chấp mọi luật lệ, hay nghị định. Nói chung ở cấp cao nhất mọi người đều có thái độ tích cực, thế nhưng trên thực tế mọi thứ phải thực hiện dần dần từ dưới lên.

Như vậy, mọi thứ trên bàn đàm phán đều phải đảm bảo được tính công bằng, sau đó nó sẽ nhận được sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp Mỹ. Khi quyết định ủng hộ, họ sẽ lên tiếng một cách tích cực tại Quốc Hội. Nhờ thế mà các nhà lãnh đạo quốc hội sẽ tự tin mà bỏ phiếu cho nó. Và cuối cùng là Tổng thống sẽ ký phê chuẩn.

Cứ cho là Việt Nam sẽ kịp làm hết mọi thứ từ kết thúc đàm phán đến có được lịch trình tại Quốc hội về PNTR, vậy lá phiếu của Tổng thống nằm ở đâu?

Chúng tôi có 485 hạ nghị sĩ và 100 thượng nghị sĩ, nhưng cuộc bỏ phiếu ở Hạ nghị viện có ý nghĩa quan trọng hơn. Tất nhiên là phải có tỷ lệ phiếu đa số, còn nếu không vấn đề này cũng chẳng được chuyển lên bàn Tổng thống. Quốc hội sẽ thảo luận, có người ủng hộ, người chống đối, nhưng theo tôi hiểu những người chống đối là không nhiều.

Như vậy, sự ủng hộ của Tổng thống chỉ là không phủ quyết lại sự thông qua của Quốc hội?

Đúng thế!

Riêng về vấn đề WTO, chuyến đi của Thủ tướng vẫn thành công

Người ta vẫn nói rằng nếu không có việc Tổng thống Mỹ ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO thì chắc sẽ không có chuyến đi của Thủ tướng Việt Nam sang Hoa Kỳ. Như vậy, nếu sự “ủng hộ” của Tổng thống Mỹ chỉ dừng ở mức như vậy, chuyến đi này liệu có thành công vang dội như người ta nói, tất nhiên không kể đến cơ hội quảng bá một cách toàn diện về đất nước Việt Nam thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ?

Chính anh đã trả lời rồi còn gì. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Việt Nam đã có rất nhiều bài viết liên quan đến chuyến thăm này và Việt Nam nói chung. Tất nhiên cũng có những bài tiêu cực, nhưng đại đa số là tích cực.

Cũng nhờ những bài viết này mà sự quan tâm của người Mỹ nói chung và nghị sĩ Mỹ nói riêng đối với Việt Nam tăng lên rất nhiều. Chưa bao giờ trong lịch sử Amcham ở đây chúng tôi lại chứng kiến nhiều nghị sĩ đến thăm và tìm hiểu Việt Nam đến như vậy, chỉ trong vòng nửa năm trở lại đây, và hy vọng sẽ còn tiếp tục.

Rõ ràng với những thực tế tìm hiểu tại Việt Nam họ sẽ có cách nhìn khác đi, khách quan hơn, và tiếng nói của họ trong quốc hội sẽ tăng thêm sự quan tâm của Quốc hội đến vấn đề PNTR, và khi nó được đưa ra bàn thảo, tiếng nói ủng hộ sẽ nhiều hơn.

Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội là chủ nhà APEC để quảng bá cho mình, và tạo ra một sự quan tâm mới. Chuyến thăm của Tổng thống Bush đến Việt Nam cũng có thể thu hút sự chú ý của dư luận và Quốc hội Mỹ.

Ông có thực sự tin rằng các nghị sĩ Mỹ sau khi rời Việt Nam có cái nhìn thiện cảm hơn về đất nước này?

Thường thì vào cuối chuyến thăm họ thường tham gia vào các cuộc giao lưu với cộng đồng doanh nghiệp Mỹ ở đây. Chính họ nói ra những suy nghĩ của họ với chúng tôi. Đó cũng là điều kiện tốt để chúng tôi đối thoại, cảm nhận những phản hồi từ phía họ.

Với những gì họ đọc được trên báo, hay tạp chí tại Mỹ, họ đến đây với một quan điểm, và điều chúng tôi cố gắng làm là thay đổi suy nghĩ đó, định hình lại nó bằng những thực tế ở Việt Nam. Những gì chúng tôi nói với họ là triển vọng của Việt Nam theo đánh giá của chúng tôi, thực tiễn kinh doanh ở đây theo cách nhìn của chúng tôi.

Qua trao đổi tôi thấy những điều ấn tượng nhất với họ là sự tấp nập của dòng xe máy, ô tô trên đường phố. Điều đó nói lên với họ sự khấm khá lên của đời sống nói chung, sự phát triển của tầng lớp trung lưu, sự cải thiện trong thu nhập của người dân. Và sự phát triển đó một phần quan trọng là nhờ có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Mỹ, những người đã đóng góp vào việc định hình lại nền kinh tế.

Vì vậy nếu thoả thuận đàm phán nhanh chóng được chuyển lên quốc hội, nhiều nghị sĩ đã qua đây vẫn còn giữ được những ấn tượng tươi mới về Việt Nam. Chính họ sẽ là những người thúc đẩy quá trình thông qua PNTR cho Việt Nam.

VN phải chứng tỏ năng lực thực hiện cam kết BTA

Vào tháng 9 năm ngoái, khi có sự bế tắc trong quá trình đàm phán song phương, Amcham đã công bố trên website những vấn đề liên quan đến WTO và việc thực hiện BTA của phía Việt Nam. Ông có thể giải thích lý do được không?

Tuan toi, se co tuyen bo quan trong ve WTO?
"Cho tới nay, cộng đồng doanh nghiệp Mỹ chưa thể biết rõ ràng điểm cuối cùng là ở đâu".
Quả thực khi Tổng thống nói điều đó, chúng tôi nhận thấy rằng quá trình đàm phán có vẻ không suôn sẻ, và đây là cơ hội cuối cùng của cộng đồng doanh nghiệp tác động đến bàn đàm phán truớc khi vòng tiếp theo bắt đầu. Chúng tôi đã gặp nhau và đi đến quyết định phải làm một điều gì đó. Và như vậy bản khuyến nghị đã ra đời.

Thứ nhất, những cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Mỹ theo BTA họ chưa thực hiện được, và điều đó làm cho cuộc đàm phán liên quan đến WTO trở nên khó khăn hơn. Thứ hai, chúng tôi coi những đòi hỏi trong BTA là mức độ tối thiểu mà họ vẫn chưa thực hiện được thì với mức độ đòi hỏi cao hơn họ làm sao thực hiện được.

Rõ ràng, khi Quốc hội Mỹ bàn về vấn đề PNTR, chúng tôi phải quay về Washington với tư cách nhân chứng. Và làm sao chúng tôi có thể thuyết phục Quốc hội là cứ thông qua đi, Việt Nam sẽ thực hiện tốt cam kết WTO, trong khi những cam kết lần đầu với BTA còn chưa được thực hiện được. Việt Nam phải chứng tỏ được năng lực thực hiện cam kết của mình.

Như vậy thái độ của Amcham lần này khác với quá trình đàm phán để thoả thuận về BTA? và rõ ràng điều này có tác động đến lập trường đàm phán của USTR?

BTA có một số điều khoản nhất định được thực hiện theo một lộ trình nhất định. Còn với WTO, rõ rằng đây là một thoả thuận lớn hơn nhiều, có rất nhiều điều khoản phải đàm phán. Có một điều mà chúng tôi, Amcham, và USTR thống nhất với nhau rằng trong việc kết thúc đàm phán liên quan đến WTO phải tính đến việc Việt Nam thực hiện những cam kết theo BTA như thế nào.

Rõ ràng là có một số cam kết Việt Nam chưa thực hiện. Rõ ràng chỉ riêng việc này thôi đã làm khó cho Việt Nam trong việc đạt được thoả thuận với Mỹ về WTO, bởi vì quan điểm của USTR là Việt Nam phải thực hiện nốt những cam kết theo BTA trước khi hai bên chuyển sang bước tiếp theo.

Đoàn đàm phán của USTR sẽ gặp Amcham vào Thứ ba tuần tới, để bàn về những diễn biến mới nhất liên quan đến đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, cũng như để nghe lập trường của cộng đồng doanh nghiệp Mỹ về vấn đề Việt Nam gia nhập tổ chức này.

Ảnh hưởng của doanh nghiệp Mỹ vào tiến trình WTO của VN

Như vậy, việc thực hiện các cam kết BTA đối với các doanh nghiệp Mỹ sẽ tác động đến cả tiến trình đàm phán và PNTR ở Quốc hội?

Chính xác tuyệt đối. Đây là thoả thuận thương mại chứ không phải chính trị. Chúng tôi không làm điều đó vì Quốc hội, mà vì quyền lợi của cộng đồng doanh nghiệp Mỹ và cả vì Việt Nam.

Vì sao ư? Bởi vì một khi thoả thuận thương mại được ký kết, rất nhiều cơ hội sẽ được mở ra cho họ. Khi qui mô nền kinh tế lớn lên, sẽ có nhiều cơ hội cho các công ty Mỹ tham gia vào nền kinh tế, và họ sẽ làm cho cái bánh to gấp bội. Như thế miếng bánh “tuyệt đối” dành do doanh nghiệp Việt Nam sẽ không hề nhỏ đi, mặc dù tỷ lệ “tương đối” trong cái bánh đó có vẻ nhỏ lại.

Như vậy, việc Việt Nam thực hiện các cam kết BTA sẽ khiến cho các công ty Mỹ tác động tích cực vào quá trình đàm phán và cả vào quá trình bỏ phiếu ở Quốc Hội. Tại Quốc hội họ sẽ nhìn vào cả bức tranh, tất nhiên là cả những gì đã được thực hiện theo BTA. Họ muốn nhìn thấy cả một loạt những ghi nhận, thành công do BTA, và cả sự cải thiện trong quan hệ giữa 2 nước, mang lại.

Nhưng giả sử như Việt Nam không kịp thực hiện tất cả những điều đã cam kết theo đúng lộ trình, liệu phía Mỹ, hay nói đúng hơn cộng đồng doanh nghiệp Mỹ, sẽ chấp nhận những phần cơ bản gì?

Theo tôi điều này lại phụ thuộc vào những công ty Mỹ nào sẽ được hưởng lợi từ những phần này. Những tên tuổi lớn như Procter & Gamble, hay Coca-cola, Federal Express… là những công ty có mạng lưới khắp toàn nước Mỹ, và có ảnh hưởng đến toàn nước Mỹ trong cuộc sống thường nhật. Đó là những công ty có tiếng nói mạnh mẽ nhất ở Quốc hội.

Hay chẳng hạn như ngành bảo hiểm là ngành có rất nhiều quyền lực chính trị ở Washington. Nên rõ ràng việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ nhận được sự ủng hộ của nhiều thế lực ở Washington, nếu Việt Nam thật sự mở cửa thị trường cho những công ty này vào. Còn nếu không Việt Nam sẽ mất những thế lực ủng hộ này.

Một điều nữa cũng cần quan tâm là một số ngành tuy nhỏ nhưng tiếng nói lại lớn, chẳng hạn như đánh bắt thuỷ sản (như trong vụ kiện cá basa và tôm), họ có ảnh hưởng lớn vì họ to mồm lắm.

Như vậy, Việt Nam phải chú ý đến những công ty có ảnh hưởng lớn đến Quốc hội, họ có tiếng nói lớn tại đó, và có thể át đi sự phản đối.

Doanh nghiệp Mỹ: "Phía Mỹ cũng phải có nhượng bộ!"

Nói tóm lại, quan điểm của Amcham trong vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam là thế nào?

Nói gì thì nói, Amcham vẫn rất tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO. Những gì chúng tôi đã làm là cố gắng tìm cách phá vỡ sự bế tắc trong đàm phán, bởi sớm hay muộn phía Việt Nam cũng gặp phải những vấn đề đó, không trên bàn đàm phán thì tại Quốc Hội.

Ngoài nhu cầu tự nhiên của các nghị sĩ, chúng tôi cùng với Hội Đồng Thương mại Việt - Mỹ, và Hội đồng Thương mại Mỹ -ASEAN, luôn tận dụng mọi cơ hội, từ kỳ nghỉ giữa hai kỳ họp, mùa gặp gỡ cử tri, hay bất kỳ dịp nào, để khuyến khích các nghị sĩ thăm những nơi như Việt Nam. Và khi họ đã ở đây, chúng tôi ngồi lại và cung cấp cho họ những thông tin về những gì thực sự đang diễn ra ở Việt Nam.

Thường thì những người này thường là thành viên của những uỷ ban lớn trong quốc hội, những người thường có ảnh hưởng lớn trong vấn đề thương mại với Việt Nam, cũng như những cuộc bỏ phiếu liên quan đến Việt Nam.

Tôi nghĩ rằng vòng đàm phán lần này sẽ mang lại nhiều kết quả tích cực đối với cả 2 phía, và đưa Việt Nam đến gần hơn “chiếc cửa sổ cuối cùng” để có thể đạt được thoả thuận với Mỹ. Và tất nhiên là phía Mỹ cũng phải có những nhượng bộ nhất định trước khi thoả thuận có thể ký.

Cho tới nay thì cộng đồng doanh nghiệp Mỹ chưa thể biết rõ ràng điểm cuối cùng là ở đâu. Chúng tôi cũng hy vọng rằng sau vòng đàm phán này USTR sẽ cởi mở hơn trong câu chuyện với chúng tôi, và từ đó chúng tôi biết có thể giúp gì trong việc thực hiện cú hích cuối cùng này.

  • Huỳnh Phan
    thực hiện