Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Myanmar - một con đường với ba góc quan sát


Myanmar - một con đường với ba góc quan sát

"Qua những phát ngôn và hành động của mình, cả ông Thein Sein lẫn bà San Suu Kyi, theo tôi hiểu, đều nhận thức rằng đã đến lúc mọi nguồn lực của đất nước, sau hàng thập kỷ chia rẽ và đối đầu, phải được qui tụ lại để tạo sức bật cho phát triển, chứ không phải để sử dụng trong cuộc đấu tranh nội bộ"

Trong mấy ngày vừa rồi, kết quả sơ bộ về cuộc bầu cử bổ sung ở Myanmar với thắng lợi gần như tuyệt đối của Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà San Suu Kyi, cũng như cá nhân bà, đã tạo một cảm hứng lớn và kỳ vọng mới cho công luận và dư luận quốc tế đối với Myanmar và cả cái khu vực đang tiến tới một cộng đồng vào năm 2015. Nhưng bên cạnh đó, chắc hẳn vẫn có những mối lo ngại, bởi những nguyên do khác nhau.
Tuanvietnam xin được giới thiệu một trong những nỗi lo đó, bên cạnh hai cách nhìn lạc quan về những đổi thay nhanh chóng trong thời gian gần đây ở cái quốc gia đã sống gần nửa thế kỷ dưới chế độ độc tài quân sự.
Ký giả Chongkittavorn và câu chuyện trước hai cuộc bầu cử
Trong số những bài phân tích về thành công ASEAN 2010 tại Hà Nội, có lẽ bài "Vai trò lãnh đạo ASEAN của Việt Nam là bài học cho tất cả" của ký giả Kavi Chongkittavorn, đăng trên The Nation số ra ngày 1.1.2010, được coi là có góc nhìn sâu sắc, toàn diện và khách quan nhất.
Tuy nhiên, người viết vẫn cảm thấy đánh giá của ký giả kỳ cựu này, phần liên quan đến bầu cử ở Myanmar, vẫn chưa thật thuyết phục, khi ông viết rằng "các nước thành viên đều phải  thừa nhận nước chủ nhà Việt Nam đã khéo léo giúp hạ thấp các cuộc thảo luận về khủng hoảng chính trị ở Myanmar bằng cách dấy lên mối lo ngại về Biển Đông".
Nói như vậy, vô hình trung, ký giả Chongkittavorn đã "hạ thấp" mối lo ngại, không chỉ của Việt Nam, về nguy cơ bất ổn ở Biển Đông. Hơn nữa, thật không công bằng đối với lãnh đạo Việt Nam, khi cho rằng việc họ thách thức một nước lớn trong khu vực, với những hệ luỵ khôn lường của nó,  lại không xuất phát từ chủ quyền và lợi ích quốc gia, mà dường như từ lợi ích của một thành viên khác.
Nhưng Chongkittavorn đã có lý khi cho rằng "các nhà lãnh đạo ASEAN có thể đã tạo ra được một áp lực lớn hơn đòi đưa các nhà quan sát bầu cử tới Myanmar, nếu như nước chủ nhà giữ vai trò dẫn dắt với một lập trường mạnh mẽ hơn".
Không chỉ có vậy. Cuộc bầu cử quốc hội Myanmar đã diễn ra chỉ một tuần sau lễ bế mạc Cấp cao ASEAN 17, trong bối cảnh còn tới hơn hai nghìn tù nhân chính trị vẫn bị giam giữ, nhiều đảng phái và cá nhân không được quyền tham gia (trong đó bà San Suu Kyi), cũng như có tới 25% số ghế được dành sẵn đại diện quân đội.
Thế nhưng, chỉ chưa đầy một năm rưỡi sau đó, Myanmar dưới sự điều hành của một chính phủ dân sự đầu tiên sau khoảng nửa thế kỷ, vốn là kết quả của cuộc bầu cử mà nhiều người như Chongkittavorn còn tìm thấy nhiều điểm để phê phán, đã tiến hành những thay đổi đáng ngạc nhiên.
Gần một phần ba số tù nhân chính trị đã được thả. Chính quyền Myanmar đã đàm phán và ký kết các thỏa thuận ngừng bắn với nhiều nhóm vũ trang thuộc các sắc tộc thiểu số khác nhau tại Myanmar. Theo giới quan sát, việc giải quyết các cuộc xung đột với các sắc dân thiểu số đóng vai trò quyết định đối với sự ổn định và phát triển của đất nước này trong tương lai.
Và điều được cộng đồng quốc tế chờ đợi nhất là Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD), do bà San Suu Kyi lãnh đạo, đã được phép tham gia cuộc bầu cử bổ sung, cũng như việc giới nhà quan sát quốc tế được mời vào Myanmar để giám sát.
Theo Chongkittavorn trong bài viết trên The Nation ngày 26.3.2012, trong động thái cởi mở này của chính quyền Myanmar có phần đóng góp không nhỏ của Tổng Thư ký ASEAN Surin Pitsuwan, người đã được Thổng thống Thein Sein mời vào thăm nước này trước khi cuộc bầu cử diễn ra khoảng 40 ngày.
Trong cuộc gặp với Tổng thống Thein Sein, ông Pitsuwan đã khuyên Myanmar ít nhất cũng nên mời những quan sát viên và phóng viên trong khu vực vào giám sát cuộc bầu cử.
Những người ủng hộ giơ cao tấm ảnh bà San Suu Kyi khi kết quả bầu cử được công bố. Ảnh: Reuters
"Người dân ASEAN xứng đáng được biết các ông đang tiến hành cải cách như thế nào. Myanmar sẽ là chủ tịch của chúng tôi (2014)", ông Pitsuwan được trích dẫn là đã nói như vậy với người đứng đầu chính quyền Myanmar.
Nhưng chính phủ của ông Thein Sein đã không chọn phương án tối thiểu đó. Họ mời thêm cả quan sát viên từ Mỹ và Liên minh châu Âu. Hẳn ông Thein Sein vẫn còn nhớ vụ các nhà ngoại giao phương Tây đã tẩy chay sự kiện cuối năm 2010, khi chính quyền quân sự tiền nhiệm chỉ mời các nhà ngoại giao nước ngoài và đại diện các tổ chức quốc tế thường trú ở Rangoon tham gia giám sát tại các điểm bỏ phiếu.
Nhưng đối với bản thân Chongkittavorn, với tư cách là một nhà báo và đồng thời là Chủ tịch Liên minh Báo chí Đông Nam Á (SEAPA), có lẽ sự thay đổi lớn nhất là cuộc hội thảo quốc tế về phát triển truyền thông ở Myanmar, do Bộ Thông tin & Văn hoá Myanmar và UNESCO đồng tổ chức vào 19-20.3 vừa rồi, nhằm chuẩn bị cho việc soạn thảo luật báo chí của nước này.
Trong bài tham luận của mình, Chongkittavorn đã xác định Myanmar, trong cái "Disney Land" về thể chế chính trị, là "chủ nghĩa xã hội - dân chủ". Còn về mức độ tiến bộ của tự do báo chí, vị chuyên gia hàng đầu về báo chí ở Đông Nam Á này đã xếp Myanmar ngang hàng với Singapore, Malaysia và Bunei, và thấp hơn Philippines, Indonesia, Thái Lan và Campuchia.
Chỉ sau chưa đầy một năm rưỡi, quan điểm của Kavi Chongkittavorn về Myanmar đã thay đổi một cách đáng ngạc nhiên. Mặc dù, sự ngỡ ngàng của vị ký giả này hoàn toàn có lý.
Thế nhưng, có một người ở cách nơi Chongkittavorn đang sinh sống khoảng 2 giờ bay lại hoàn toàn không ngỡ ngàng về sự thay đổi này. Đó là Tiến sĩ Võ Trí Thành, Viện phó Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, người vừa mới dự một số sự kiện trong khuôn khổ Cấp cao ASEAN 20 tại Phnom Penh.
TS Thành với câu chuyện chia sẻ kinh nghiệm cải cách
"Thực ra, quá trình mở cửa và cải cách, ở Myanmar đã có sự chuẩn bị từ lâu rồi, ngay trong chính quyền quân sự", TS Thành nói.
Ông kể rằng bên lề APEC 2006, ông đã được mời đến Nhà khách Chính phủ, nói chuyện với một phái đoàn Myanmar, trong đó có một số người mặc quân phục và đeo quân hàm cấp tướng.
"Tôi chủ yếu chia sẻ với họ kinh nghiệm cải cách kinh tế của Việt Nam. Những kinh nghiệm cải cách thuộc những lĩnh vực khác do các chuyên gia khác của Việt Nam trình bày", TS Thành nói.
Có lẽ, sự quan tâm ngày càng tăng của chính quyền quân sự Myanmar đến kinh nghiệm cải cách - mở cửa của Việt Nam bắt đầu từ sau chuyến đi của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, với tư cách Đặc phái viên của Thủ tướng Phan Văn Khải. Nhiệm vụ của vị thuyết khách này là thuyết phục Myanmar chỉ tham gia ASEM 5 ở cấp bộ trưởng, thay vì cấp nguyên thủ - một sự thỏa hiệp nhằm đảm bảo cho ASEM 5 thành công.
Hồi đó, một số quốc gia thuộc EU lúc đó đã chỉ trích rất mạnh mẽ Myanmar về sự vi phạm nhân quyền và dân chủ, khi năm 2003 chính quyền quân sự đã bỏ tù hàng ngàn nhà đấu tranh dân chủ và thực hiện tái quản thúc đối với bà San Suu Kyi.
Những gì mà ông Võ Văn Kiệt nói với Thống tướng Than Swe và các lãnh đạo quân sự Myanmar vẫn chưa được công bố. Thế nhưng, có một điều rất đáng lưu ý là trong những năm đó ông Võ Văn Kiệt suy nghĩ rất nhiều về câu chuyện hoà giải dân tộc ở Việt Nam, và cũng là vấn đề mấu chốt trong giải quyết bất ổn ở Myanmar.
Khoảng nửa năm sau chuyến đi đó, và đúng một tháng trước ngày kỷ niệm 30 năm Ngày Đất nước Thống nhất, Tuần báo Quốc tế đã cho đăng tải bài phỏng vấn ông về chủ đề này.
Ngược hẳn với các tướng lĩnh chỉ ngồi nghe và ghi chép, giới chuyên gia dân sự của nước này mà TS Thành gặp ở nhiều sự kiện khác nhau, trong khoảng thời gian từ đầu năm 2006 đến cuối năm 2011, ở cả Hà Nội và Rangoon, đã hỏi ông đủ mọi thứ.
"Nhưng họ quan tâm nhiều nhất đến giai đoạn cuối '80 - đầu '90 của Việt Nam (khoảng thời gian Việt Nam vẫn bị phương Tây, đứng đầu là Mỹ, phong toả về kinh tế - NV)", TS Thành nói.
TS Thành cho biết thêm rằng trong chuyến đi Phnom Penh vừa rồi, ông được biết thêm rằng kiến trúc sư của cuộc cải cách tỷ giá gây tiếng vang vừa rồi ở Myanmar đã từng qua Việt Nam "ăn sương, nằm gió" mấy năm liền để học tập kinh nghiệm.
"Thực ra, nói như báo chí rằng họ thả nổi tỷ giá là không hoàn toàn đúng. Họ chỉ thống nhất giữa giá chính thức và giá chợ đen, như Việt Nam đã từng làm năm 1989, nhưng với sự linh hoạt hơn", TS Thành nhận xét.
Nhưng về chính trị, theo TS Thành, Myanmar có đặc thù riêng của mình, và rất khác với Việt Nam. Một trong những nét đặc thù đó là phong trào dân chủ đã bắt rễ vào xã hội Myanmar từ lâu rồi.
"Một thuận lợi cho quá trình này là đa số dân Myanmar theo đạo Phật. Tôi cho đấy là ưu thế theo cách của châu Á, nhất là những dân tộc đậm chất Phật Giáo, với đặc điểm là duy tình, cân bằng, tránh những xung đột lớn" TS Thành nói.
Sự lựa chọn đấu tranh bất bạo động, theo kiểu Gandhi ở Ấn Độ, của bà San Suu Kyi, hoặc việc bà gần đây phản đối khả năng cựu chính quyền quân sự ra tòa có thể là một những ví dụ thuyết phục cho tinh thần của Nhà Phật. Còn việc tại sao chính quyền quân sự Myanmar, khác với những chính thể độc tài khác, lại không thủ tiêu bà San Suu Kyi, cũng như 'Kế hoạch tiến tới nền dân chủ trong kỷ cương' được họ đưa ra trong năm 2003, lại là những vấn đề rất cần tìm hiểu.
Tuy nhiên, TS Thành cho rằng, về lâu dài, cách tư duy này lại là một thách thức lớn cho quá trình xây dựng một xã hội pháp quyền chặt chẽ - điều mà quá trình dân chủ hoá hướng tới. "Tôi nghĩ một nền giáo dục kiểu Anh được phục hồi và phát triển sẽ bù đắp cho cái khiếm khuyết này", TS Thành gợi ý.
Những ưu thế của một nền giáo dục kiểu Anh, theo TS Thành, là ở tính thực tiễn cao và tầm nhìn rộng. "Tất nhiên, cái dễ nhận thấy nhất là về mặt ngôn ngữ. Các thành viên Phòng Thương mại của họ mà tôi gặp trong các diễn đàn doanh nghiệp đều có thể trao đổi thoải mái bằng tiếng Anh", TS Thành nhận xét.
Ba lợi thế khác của Myanmar để có thể tiến hành cải cách thành công là dồi dào tài nguyên (khoáng sản, đất đai), tính tôn trọng pháp luật và lợi thế nước đi sau.
"Đang chậm phát triển mà nay lại mở tung cải cách, nên có sức bật lớn và khả năng thu hút sự chú ý của bên ngoài cũng lớn. Đó là chưa nói tới khả năng học những bài học cả thành công lẫn thất bại của những nước đi trước, như Việt Nam", TS Thành nói.
Theo giới quan sát quốc tế, việc quyết định đình chỉ dự án xây dựng đập Myitsone do phía Trung quốc tiến hành của chính quyền dân sự Myanmar cho thấy Myanmar đã cố gắng thoát khỏi Trung quốc sau hơn 20 năm chịu sự kiềm chế của nước láng giềng khổng lồ hơn một tỷ dân với quá nhiều tham vọng ở đất nước này.
"Gặp gỡ các đồng nghiệp Myanmar, họ luôn nói là họ còn khó khăn lắm, phải cố gắng nhiều, học hỏi nhiều. Tôi nói đùa rằng biết đâu 5 năm nữa Myanmar lại trở thành đối thủ cạnh tranh của Việt Nam", TS Thành kể.
Cũng có một người đã nói với người viết hệt như TS Võ Trí Thành nói với các đồng nghiệp Myanmar. Đó là doanh nhân Phạm Quang Vinh, Giám đốc Công ty Tư vấn Phạm & Cộng sự.
Có điều, ông Vinh không nói đùa, mà với một nỗi lo thật sự nghiêm túc.
Doanh nhân Vinh và mối lo về kẻ thách thức
"Tôi đi nhiều nơi, và trong thời gian gần đây chỉ nghe thế giới họ nói về Indonesia và Myanmar trong khu vực này", ông Vinh, người cung cấp dịch vụ tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, than thở.
Theo ông Vinh, Việt Nam hiện đang đứng trước cái nguy cơ mà Thái Lan đã gặp phải cách đây một thập kỷ rưỡi, khi khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra. Lúc đó, rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài làm ăn ở Thái Lan đã hướng hết cặp mắt sang Việt Nam.
"Trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam đi lên được là nhờ luồng tiền chạy từ ngoài vào. Còn trong vài năm vừa rồi luồng tiền lại chảy từ trong ra, nên muốn kinh tế phục hồi lại, việc thu hút lại nguồn tiền đổ vào là cực kỳ quan trọng" ông Vinh giải thích.
Người dân Myanmar đi bầu cử
"Tôi e rằng Myanmar sẽ không bỏ lỡ cơ hội, như Việt Nam đã từng bỏ lỡ hồi đó đâu. Họ sẽ là "The next Tiger" thực sự như ký giả tờ Diplomat vừa phân tích, điều mà giới đầu tư nước ngoài tưng kỳ vọng ở Việt Nam hồi 2007", ông Vinh khẳng định.
Và để chứng minh, ông Vinh đã đưa ra hai lập luận.
Thứ nhất, Myanmar có một nền tảng giáo dục rất tốt theo kiểu Anh, để xây dựng nguồn nhân lực cho phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài. Những khách hàng người Malaysia kể với ông Vinh rằng trong giai đoạn 50-70 của thế kỷ trước nhiều bác sĩ, kỹ sư của Myanmar đã từng sang giúp Malaysia.
"Bản thân tôi có một số cuộc tiếp xúc với giới doanh nhân Myanmar, và có dịp nghe một số bộ trưởng của họ nói chuyện. Ngoài trình độ tiếng Anh lưu loát, tư duy của họ rất rõ ràng, theo kiểu phương Tây", ông Vinh nói.
Thứ hai, cách ứng xử của chính quyền quân sự trước đây của Myanmar, khi quản thúc bà suốt 15 năm, nhưng không giết, cũng như việc bà không đồng tình với cái kiểu "công lý trả thù" đối với họ, cũng được ông Vinh nhìn nhận dưới góc độ của văn minh ứng xử.
Quan trọng hơn nữa, theo ông Vinh, trong quá trình dân chủ hóa và hòa giải ở Myanmar hiện có một cái gì đó tương tự như cặp Nelson Mandela - Frederik Willem de Klerk trong quá trình xóa bỏ chế độ Apartie và hòa giải dân tộc vào cuối những năm '90 của thế kỷ trước ở Nam Phi.
"Qua những phát ngôn và hành động của mình, cả ông Thein Sein lẫn bà San Suu Kyi, theo tôi hiểu, đều nhận thức rằng đã đến lúc mọi nguồn lực của đất nước, sau hàng thập kỷ chia rẽ và đối đầu, phải được qui tụ lại để tạo sức bật cho phát triển, chứ không phải để sử dụng trong cuộc đấu tranh nội bộ", ông Vinh kết luận.
Nhà báo Lê Thọ Bình có kể lại rằng, (cố) Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai, khi được hỏi về những nhà lãnh đạo quốc tế mà ông có dịp tiếp xúc, đã nói rằng ông kính nể nhất cựu Tổng thống Nam Phi Frederic Willem de Klerk.
"Giữ được quyền lực đã là người rất giỏi rồi. Nhưng dám từ bỏ quyền lực, vì một lợi ích lớn hơn của toàn xã hội, thì phải xếp vào hàng vĩ nhân", ông Lê Mai nói.
Theo đánh giá của giới phân tích quốc tế, trong cuộc tổng tuyển cử 5 năm tới Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ bà San Suu Kyi sẽ thách thức quyền lực của Đảng Đoàn kết Phát triển Liên bang của Tổng thống Thein Sein, hiện chiếm đa số ghế trong Quốc hội.

Vietship 6 và di sản đáng giá nhất của Phạm Thanh Bình

"Chỉ có một biển mẹ, và đó là một yêu cầu tối thượng, vì kinh doanh biển cực kỳ đắt. Thế mà nguồn lực vốn đã quá hạn hẹp của chúng ta đã và đang bị chia năm, xẻ bảy" - kỹ sư Đỗ Thái Bình.
LTS: Tuần trước, tại Hà Nội đã diễn ra một sự kiện quan trọng, nhưng lại ít thu hút sự quan tâm của giới truyền thông - đó là triển lãm về ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam lần thứ 6 do Vinashin tổ chức (Vietship 6).
Điểm khác biệt rõ ràng nhất của Vietship 6 so với Vietship 5 (2010), theo quan sát của người viết, là địa điểm tổ chức triển lãm. Thay vì chọn địa điểm hoành tráng tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, ban tổ chức đã chọn một địa điểm khiêm nhường hơn là Trung tâm Triển lãm Giảng võ. Đang trong quá trình tái cơ cấu, cũng như đau đầu với chuyện "nợ đòi, con khóc", rõ ràng Vinashin đã có một quyết định hợp thời.
Điểm khác biệt thứ hai là hai nhân vật chính của Vietship 5, và trong bài viết "Hai gương mặt, hai cách nhìn" trên Sài Gòn Tiếp Thị sau sự kiện đó, là Chủ tịch Phạm Thanh Bình và Giám đốc Đầu tư Lê Lộc, vì những lý do khác nhau, đều đã rời con tàu Vinashin.
May thay, người viết vẫn còn gặp lại nhân vật thứ ba trong bài viết đó - kỹ sư Đỗ Thái Bình - một nhà cung cấp cho Vinashin, và cũng là nhà nghiên cứu độc lập về ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nó.
Và kỹ sư Đỗ Thái Bình đã giúp người viết phát hiện nốt những khác biệt còn lại.

Vietship 5 - 2010: Do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các hợp đồng đóng mới tàu biển trong năm 2009 giảm mạnh. Hơn nữa, trong số những hợp đồng đã ký trước đó có khoảng 17% bị huỷ, tuy có ít hơn so với Hàn Quốc và Trung Quốc (khoảng 20%). Theo ông Lê Lộc, Tổng Giám đốc Đầu tư, Vinashin cũng kịp thu lợi không ít từ những hợp đồng bị huỷ này. "Chúng tôi vẫn tiếp tục đóng xong một số tàu bị huỷ hợp đồng giữa chừng, và bán lại", ông Lộc nói...
Ông Lộc khẳng định với các đối tác nước ngoài trong hội thảo rằng Nhà nước đã xác định sẽ hỗ trợ tín dụng cho Vinashin với số tiền khoảng 20 ngàn tỉ đồng, tương đương với hơn 1 tỉ USD. "Ngoài khoản hỗ trợ trực tiếp, Chính phủ còn đứng ra bảo lãnh cho chúng tôi vay tín dụng từ các tổ chức tài chính quốc tế, và việc thương lượng đang được tiến hành", ông Lộc nói.
Còn một nguồn hỗ trợ nữa từ Chính phủ, theo ông Lộc, không trực tiếp nhưng lại có hiệu quả cao. Đó là Chính phủ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước khác đặt hàng nhằm duy trì việc làm và giúp Vinashin đứng vững trong thời điểm cực kỳ khó khăn này. Ông Lộc nêu ra các ví dụ về 40 con tàu được đặt hàng cho Vinalines, hay kho chứa dầu ngoài khơi FSO-05 cho Petro Vietnam.
(Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị - 19.3.2010)
Việc tiếp tục đầu tư đóng những con tàu bị hủy hợp đồng mà ông Lê Lộc đã "khoe" như một khoản lợi của Vinashin sau này đã được các cơ quan chức năng liên quan kết luận là nguyên nhân trực tiếp và quan trọng đẩy Vinashin lấn sâu vào nợ nần, vì tàu đóng xong không tìm được đầu ra.
Ông thấy hội thảo lần này khác gì so với hội thảo tại Vietship 5?
Tại hội thảo lần trước, Vinashin có trình bày về chiến lược, tuy rất mơ hồ và viển vông. Nhưng lần này, cả 5 diễn giả đều là người nước ngoài.
Người khai màn là đại diện của công ty đăng kiểm DNV (Det Norske Veritas), vào Việt Nam theo dự án tàu 53 ngàn DWT (tấn trọng tải) - được coi là bước ngoặt của Vinashin chuyển sang đóng tàu trọng tải lớn, để rồi từ đó mở rộng đầu tư một cách ồ ạt và lún sâu vào nợ nần.
Đại diện DNV đã đưa ra một kết luận muôn thủa của lý luận đóng tàu là "cung luôn vượt hơn cầu, và các xưởng đóng tàu đầy rẫy trên thế giới đang cạnh tranh nhau về công việc". Chứ ở lần trước, khi Vinashin trình bày kế hoạch mở chuỗi xưởng đóng tàu ra khắp cả dải bờ biển của Việt Nam, không vị khách nước ngoài nào lên tiếng phản biện cả.
Nhưng điểm khác biệt lớn nhất là sự xuất hiện lần đầu tiên của các nhà thiết kế nước ngoài, qua sau sáu kỳ Vietship. Bởi, trước đây, chính sách của các nhà đóng tàu Việt Nam là bỏ mặc việc đào tạo nguồn nhân lực thiết kế.
Đại diện của Công ty Knud E Hansen (Đan Mạch) và đại diện một công ty của Hàn Quốc đều kết luận rằng xu hướng mới của vận tải biển là công nghệ xanh.
Di sản đáng giá nhất mà ông Phạm Thanh Bình để lại cho Vinashin - Công ty Thiết kế tàu thủy của Phạm Bình Minh
Tức là công nghệ mình đang dùng và những tàu đang đóng dở mà không có chủ là đâm vào ngõ cụt? Đúng vậy.
Ở phần Q&A, ông thấy điều gì đáng chú ý nhất?
Thú vị nhất là câu hỏi của đại diện Công ty Bến Kiền với đại diện của Huyndai - Vinashin về kinh nghiệm dùng IT để quản lý. Hoá ra, đại diện Bến Kiền đã lộ ra rằng xưa nay họ không hề sử dụng IT trong công tác quản lý.
Ông tin là như vậy?
Tôi là nhà cung ứng nên cũng hay đến các nhà máy đóng tàu ở Việt Nam, nhất là những nhà máy thuộc Vinashin.
Anh cứ đến mấy nhà máy đóng tàu mà xem, họ sẽ chỉ cho anh xem mấy cái máy tính đời mới có mấy hình cắt bổ kiểu 3D. Thế nhưng, cả bộ máy quản lý ở đó và cả mấy cái hình 3D đó, có cung cấp đầy đủ thông tin lên bàn giám đốc về tình hình cung ứng, công nghệ rồi sản xuất hay không mới quan trọng. Đó mới là quản lý bằng IT.
Ở các nước khác, bộ phận công nghệ phải là bộ phận chuẩn bị hết mọi thứ để lãnh đạo ra quyết định đầu tư - sản xuất, nhưng ở Việt Nam điều này còn lạ lẫm lắm, và bộ phận mua hàng, bộ phận thiết kế, và bộ phận tài chính hầu như ít liên quan đến nhau.
Bây giờ có đủ phần mềm, có đường Internet băng thông rộng, có iPad, máy tính xách tay, rồi máy ảnh số, camera theo dõi... Thiết bị hiện đại nào cũng có hết, nhưng họ không sử dụng vào quản lý.
Ví dụ, hôm nay phải làm hàng chục hạng mục trong một con tàu, giám đốc không cần đi xuống phân xưởng, chỉ cần theo dõi qua màn hình máy tính để theo dõi, kiểm tra.  Giám đốc chỉ cần họp kiểu tele-conferencing bất kỳ lúc nào là có thể nhìn thấy đường đi của các con tàu, công nợ hiện nay thế nào...
Anh có biết là cuối năm ngoái có một hội thảo về phát triển ngành đóng tàu do Vinashin tổ chức không? Ông Trương Văn Tuyến, Tổng Giám đốc Vinashin, báo cáo một thành tích quan trọng là "nhờ có định mức kinh tế kỹ thuật mà chúng tôi đã có thể quản lý được một phần chi tiêu tài chính". Ồ, thế hoá ra bao năm nay, họ đóng bao nhiêu tàu mà không hề có định mức kinh tế kỹ thuật à?
Ví dụ, trước đây một nhà máy kêu cần mấy trăm tỷ cho một dự án đóng tàu nào đó và trả lương công nhân là có ngay. Cái đó các cụ gọi là "bệnh nhân khai - thầy bốc thuốc". Đến bây giờ quản lý chặt hơn, nhà máy đó cần mấy trăm tỷ đồng thì phải thuyết minh rõ đến giai đoạn này, giai đoạn kia, cần một định mức là bao nhiêu tấn thép, tính ra bao nhiêu công để trả lương... Phải có bảng tính đó ở trên họ mới chi tiền.
Tôi có đến các ban kỹ thuật, và thấy bây giờ họ mới bắt đầu xây định mức.
Ý ông nói là các thiết bị IT hiện đại họ mua về chỉ để làm trang sức thôi?
Còn gì nữa. Đáng lẽ ra đã có máy tính thì phải có định mức, vì đã vẽ được thì cũng phải cân được bao nhiêu thép rồi. Phòng kế hoạch, phòng vật tư, phòng công nghệ và phòng tài chính chẳng có liên quan gì với nhau, mạnh ông nào ông ấy làm.
Kỹ sư Đỗ Thái Bình
Xin được hỏi là ông theo dõi quá trình tái cấu trúc Vinashin có thấy những chuyển biến gì khác nữa không, ngoài câu chuyện định mức kinh tế - kỹ thuật? Đối với tôi, cái khác biệt lớn nhất là người ta thực sự thấy "sợ" hơn, và bắt đầu quan tâm đến quản lý nhiều hơn.
Chứ còn cái thay đổi quan trọng nhất để có thể xây dựng một ngành công nghiệp đóng tàu thực sự, như các nước đi trước vẫn làm, là liên kết các ngành đóng tàu khác nhau ở trong nước, như của Vinashin, của dầu khí, hay của công nghiệp quốc phòng trong một sân chơi chung. Chứ ở Việt Nam không ông nào biết ông nào.
Ông có nói quá không đấy?
Cứ dạo một vòng quanh khu triển lãm là thấy rõ. Chẳng hạn, PV Shipyard (thuộc Petro Vietnam) là một thương hiệu nổi tiếng, vừa đóng giàn khoan Tam Đảo, lại không có mặt. Ngược lại, tháng 12.2011, PV Shipyard tham gia triển lãm hàng hải và Vinashin cũng không có mặt.
Hay PV Shipyard ngại dính dáng đến cái tên Vinashin?
Cũng không hẳn. Hầu như tất cả những chuyên gia giỏi của Vinashin đã chạy sang PV Shipyard của Phan Tử Giang hết rồi. Sắp tới, Phan Tử Giang sẽ cho làm giàn chìm nữa.
Trong triển lãm Vietship có thấy trưng bày cả động cơ tàu chiến nữa? Họ muốn bán cho ngành đóng tàu chiến của mình?
Đúng rồi. Nhưng rất tiếc lại ngành đóng tàu chiến lại cũng không tham gia vào cuộc triển lãm này. Ngày thứ hai của Vietship 6, nhiều sĩ quan hải quân và biên phòng đã tới thăm gian hàng của nhà cung cấp động cơ diesel  hàng đầu MTU, động cơ của các tàu tuần tra, tàu corvette mà chúng ta đang quan tâm.
Hay là do vấn đề bí mật quân sự mà các nhà máy đóng tàu quân sự không tham gia? Hoàn toàn không. Mấy xưởng đóng tàu này đã công khai hết rồi, như xưởng Hồng Hà đóng tàu pháo, hay xưởng 189, bởi vì họ đóng cả tàu dân dụng nữa.
Cái mà ngày xưa Nguyễn Mạnh Tuấn đã viết, và bây giờ cánh nhà báo các anh hay nói, chính là "đứng trước biển". Đó là chuyện nguy hiểm nhất.
Chỉ có một biển mẹ, một yêu cầu tối thượng, vì kinh doanh biển cực kỳ đắt. Thế mà nguồn lực vốn đã quá hạn hẹp của chúng ta đã và đang bị chia năm, xẻ bảy.
Giả sử, một người am hiểu về biển và ngành đóng tàu, không chỉ của Việt Nam, như ông, được mời tư vấn thì ông sẽ làm gì?
Về công nghệ đóng tàu, nếu tôi được mời tư vấn, việc đầu tiên tôi sẽ làm là thống kê lại toàn bộ năng lực của Vinashin hiện nay, cũng như ngành đóng tàu quân sự, ngành đóng tàu của dầu khí, và điều chuyển để chỉ có một ngành đóng tàu.
Tại sao? Chẳng phải Vinashin đã nguy khốn vì câu chuyện sáp nhập quá nhanh mà trình độ quản lý thì lại không theo kịp đó thôi?
Ý tôi không phải vậy. Anh có biết trong công nghệ đóng tàu bây giờ thiếu nhất gì không? Một việc rất đơn giản mà xưởng đóng tàu nào cũng phải làm, làm theo kiểu cò con, là uốn ống. Trên mỗi con tàu cần vài ki lô mét đường ống, để dẫn dầu, dẫn nước, dẫn điện, dẫn khí đốt đến các buồng...
Ý ông nói là tại sao không tập trung vào một nhà máy uốn ống?
Đúng vậy. Ví dụ ở Quảng Châu, Nhà máy đóng tàu Bạch Hạc Đồng có một  phân xưởng uốn ống khủng khiếp, dài 300m và rộng 40m. Trong đó, nó nhập máy uốn ống điều khiển bằng điện tử của Mỹ, là loại công nghệ hàng đầu thế giới. Nó cung cấp ống cho khắp nơi, vì ống không phải chỉ dành cho ngành đóng tàu, mà cả các nhà máy sản xuất nồi hơi.
Còn ở Việt Nam, đâu đâu cũng uốn ống. Nếu anh đến thăm Nhà máy Đóng Tàu Sông Cấm thì anh sẽ thấy họ uốn ống bằng công nghệ hạng bét của Trung Quốc, ngay ở Trung Quốc cũng chẳng còn dùng nữa. Có xưởng còn mua cả phần mềm uốn ống của Trung Quốc mới dở hơi.
Trong khi đó, Nhà máy Bạch Đằng chơi sang hơn, mua của Pháp rất đắt tiền, nhưng phần điều khiển bằng điện tử bị chết, do trình độ thợ điều khiển hạn chế, nên lại quay sang điều khiển bằng tay.
Bây giờ việc cần làm ngay là phải tập hợp lại toàn bộ những thiết bị uốn ống đó về một chỗ, cải thiện, nâng cấp lên cho đồng bộ, và uốn ống cho cả toàn ngành đóng tàu dùng. Lâu nay, chúng ta quên mất khái niệm hợp tác trong nghề khai thác biển ở Việt Nam.
Trong khi đó, anh thấy những nhà cung cấp nước ngoài vào đây đều đi theo nhóm cả. Trung Quốc cụm lại hành nhóm, còn Hà Lan có Hội Sở tại Việt Nam, và tại triển lãm họ tổ chức một khu riêng.
Ghe bầu đâu? Ghe nang đâu? Con người tấn công biển Lý Sơn đâu? Chứ thuyền buồm đâu phải là truyền thống của VN
Ông có nhận xét gì về lần này triển lãm này?
Hoàn toàn thiếu tính dân tộc. Tôi đã nói điều này từ Vietship 1, và tại Vietship 6 tôi buộc phải nhắc lại điều này. Không phải chỉ có chèo thuyền, rồi trống đồng mới là truyền thống đâu nhé. Ghe bầu đâu? Ghe nang đâu? Con người tấn công biển Lý Sơn đâu? Không hề có hình ảnh! Đấy là cái buồn nhất.
Thế rồi bao nhiêu công lao trong chiến tranh đóng tàu không số cũng chẳng thấy đâu. Cho dù nó bé tí tẹo, nhưng là xương máu, trí não, để từ đó Việt Nam mới nghĩ đến công nghiệp đóng tàu. Bây giờ tôi hỏi con đường Ngô Văn Năm trong Sài Gòn là tên vị anh hùng nào trong quá khứ, tôi cá là hầu hết đám trẻ đều không biết là ai. Đó chính là lãnh đạo ngành đóng tàu đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, người chỉ huy thiết kế tàu không số, xuất thân từ người thợ Ba Son anh hùng.
Trong triển lãm, tôi có thấy một gian của một công ty thiết kế thuộc Vinashin ?
Đó chính là một điểm son của triển lãm, mặc dù đó không phải là sự chủ động. Giám đốc công ty này là con trai của cựu chủ tịch Phạm Thanh Bình có tên là Phạm Bình Minh.Anh ta được gia đình cho đi học đóng tàu tại Úc, thực tập tại Hyundai, trước khi về đây và còn được đặt vào vị trí Viện phó Viện Thiết kế tàu ở 84 Trần Hưng Đạo Hà nội
Hình như cũng nghe lùm xùm nhiều về chuyện này?
Đúng thế. Ở viện này người ta phản đối rất mạnh, vì vì ở đó toàn cỡ "cây đa, cây đề" cả, cỡ tuổi tôi, hoặc kém một tí, và bảng thành tích là ở thời đánh Mỹ cũng vẽ đã thiết kế được cái này, cái nọ. Tự nhiên, một "ông con trời" nhảy dù xuống cái ghế lãnh đạo.
Nhưng tôi lại thấy sự hợp lý trong câu chuyện này. Vì trong kỷ nguyên mới này, Tây vào và lôi bản vẽ ra thảo luận, mấy "cây đa, cây đề" chịu không tham gia trực tiếp được, chí ít là về mặt ngôn ngữ.
Phạm Bình Minh trao đổi được với Tây ngon lành bằng tiếng Anh, anh ta lại sử dụng máy tính và phần mềm thiết kế cũng rất ngon lành.
Thứ nữa, Phạm Bình Minh đã đưa tư tưởng phương Tây về tổ chức phòng thiết kế, chứ không theo lối tư duy của mấy ông học Nga, học Ba Lan, hay thậm chí học trong nước. Rồi, cũng do tư duy mới kiểu phương Tây, Phạm Bình Minh tập hợp được một đội ngũ kỹ sư chuyên gia trẻ xung quanh. Và, cuối cùng, đứng đằng sau Phạm Bình Minh là những chuyên gia thiết kế phương Tây.
Theo tôi, việc cựu Chủ tịch Phạm Thanh Bình lập ra cái công ty thiết kế tàu và bổ nhiệm con trai làm giám đốc là một quyết định sáng suốt nhất, nếu không nói là duy nhất, trong suốt thời gian trị vì Vinashin của ông ta.
Và, quan trọng nhất, chắc Phạm Bình Minh hẳn phải rút kinh nghiệm để không đi vào "vết xe đổ" của người cha. Bởi thiết kế tàu cho tới nay là do Tây thiết kế, sang đây chỉ triển khai thôi. Chứ vấn đề sáng tạo thiết kế từ đầu thì phải học và rèn luyện trong thực tế.

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Ngày mùa

Ngày mùa
Mùa gặt đã tác động đến mọi sinh hoạt trong một làng quê ở Thái Bình, từ người bán hàng dạo, anh thợ sửa xe cho đến nhà trẻ…
Lúa gặt được đưa về nhà bằng xe thồ
Mảnh ruộng bên kia còn đang thu hoạch lúa chiêm, bên này đã tát nước vào và máy cày đang làm đất cho vụ mùa
Anh thợ sửa xe trong làng cũng bận rộn với những chiếc xe thồ, phương tiện chủ yếu để vận chuyển lúa từ ruộng về nhà của người nông dân ở đây
Các cô mẫu giáo cũng nghỉ hè muộn để cha mẹ, ông bà các cháu yên tâm thu hoạch lúa
Chở thùng tôn đựng thóc đi rao bán trong thôn
Vũ điệu trên sảo (rổ to) thóc
Hoàng Ngọc thực hiện

Chợ tiền xứ Lạng

Chợ tiền xứ Lạng
Phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị thăm chợ tiền xứ Lạng giữa những ngày lạm phát gia tăng, tỷ giá nhiều biến động. Chợ tiền Lạng Sơn khu trú trong hai căn nhà thuê trên đường Lê Lợi, với những quầy mua bán nhỏ xíu, nhưng thủ tục đơn giản và dịch vụ nhanh chóng chưa từng có
Chỉ vài phút sau khi người phụ nữ này đếm xong số cọc tiền và quy đổi sang nhân dân tệ, chủ hàng bên Trung Quốc sẽ nhận được tiền để thanh toán với người bán
Một nét dễ thương trong cái chợ tiền đầy những khuôn mặt lạnh lùng, từng trải
Chỉ với sổ, bút, máy tính và điện thoại di động và một chỗ ngồi, những ngân hàng không chính thức này có thể thực hiện các giao dịch mua bán nhân dân tệ, cho vay, thanh toán, hoặc chuyển tiền
Họ làm nhiều nghề khác nhau, quy mô vốn liếng cũng khác nhau. Người phụ nữ  trong ảnh chắc làm ăn nhỏ, nên tranh thủ lúc chưa có khách làm thêm việc nhà
Một doanh nghiệp khoác túi tiền đến chuẩn bị mua chừng 50 – 60 vạn tệ
Quang cảnh chợ tiền
Hoàng Ngọc thực hiện

Loạt ký sự Điện Quang

Chuyện ông Bảng kẻ “ô bàn cờ”
"Khi đó, tôi nghĩ rằng chính quyền Cách mạng về, làm gì thì cũng phải làm lợi cho dân hơn, làm đẹp hơn cái chính quyền cũ đã làm thì hẵng làm. Thôi thì cứ chia ô bàn cờ là đơn giản nhất. Vừa đẹp, mọi người lại vừa đỡ đỡ ‘théc méc’ chuyện thiệt hơn”, - Võ Bảng, Bí thư Điện Quang giai đoạn 1975-1982.

LTS: Việc triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới, do Ban Bí thư TW phát động, đã sắp kết thúc ba năm thí điểm, với một loạt xã được chọn làm thí điểm đợt 2. Trong số đó có Điện Quang (Điện Bàn, Quảng  Nam), nơi phóng viên Tuanvietnam vừa thực hiện chuyến đi tìm hiểu cách đây 2 tuần.

Điều khác biệt của Điện Quang so với các xã được lựa chọn khác, là việc bắt đầu xây dựng nông thôn mới đã bắt đầu ngay từ ngày đất nước thống nhất. Và ngay từ ngày đó, lãnh đạo của cái xã bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh này đã biết biến cái bất lợi đó thành một lợi thế.

Đó là tiến hành qui hoạch lại khu dân cư theo kiểu "ô bàn cờ" - điều mà mấy chục năm sau mới có duy nhất một đô thị ở Việt Nam là Đà Nẵng làm được. (Nha Trang là do người Pháp qui hoạch.)
29.3 tới là kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng Đà Nẵng. Theo ông Ngô Văn Văn Dũng, người vừa thôi chức Phó Chủ tịch UBND Đà Nẵng nhưng vẫn là thành viên Hội đồng Nhân dân, năm nay, cũng như những năm lẻ khác, sẽ chỉ có một buổi gặp mặt giữa những cán bộ chủ chốt qua các thời kỳ, các cựu chiến binh và những người có công.
Còn với đông đảo người dân Đà Nẵng, nhất là thế hệ trưởng thành sau năm 1975, dường như đó sẽ là một ngày bình thường. Bởi sẽ không có diễu hành quần chúng.
Nhưng đối với một người đàn ông sống cách Đà Nẵng 40 km về phía Nam, vào ngày này cách đây 37 năm mới là một cậu bé 12 tuổi, đó luôn là một kỷ niệm khó quên.
"Đà Nẵng vừa được giải phóng hôm trước thì hôm sau, cha tôi kéo hai chị em tôi đến chiếc xe bò đã chất sẵn một ít vật dụng và lương thực, thực phẩm, và nói gọn lỏn: Về quê. Thế là ba cha con chúng tôi, người kéo người đẩy, theo quốc lộ đi về quê", Tân Trưởng phòng Kinh tế & Hạ tầng huyện Điện Bàn (Quảng Nam) Nguyễn Đức Chơi nói. (Huyện Điện Bàn trước đó 6 ngày đã được giải phóng.)
Gia đình Nguyễn Đức Chơi, quê ở xã Điện Quang, tản cư ra Đà Nẵng năm 1969, sau hai cuộc "chà xát" qui mô lớn của quân đội Mỹ và Sài Gòn vào một trong những căn cứ địa Cách mạng ở đất miền Trung này. Hầu hết, những gia đình khác ở Điện Quang cũng đi tản cư ra Đà Nẵng, Thăng Bình, Quế Sơn, hay nhiều nơi khác.
"Ba tôi nói rằng về quê hương mình ăn hạt muối cũng sướng. Nhà tôi có mảnh vườn, nay đã là mặt tiền nhà phố ở Đà Nẵng, cũng bỏ luôn", ông Chơi nói.
Khác với ở nhiều nơi, trẻ em ở đây "cưỡi ngựa gỗ" trên những chiếc vỏ bom. Ảnh tư liệu Điện Quang
Ba cha con ghé qua Vĩnh Điện mượn một chiếc ghe nang, chèo dọc theo dòng sông Thu Bồn về tới cầu Kỳ Lam. Lúc đó đã 6 giờ tối. Họ cặp thuyền vô bãi cát, nổi lửa nấu ăn, rồi ngủ ngay trên bãi cát, để sáng sớm hôm sau bắt đầu quá trình đi tìm vườn. Trong vòng mấy tháng kể từ khi Đà Nẵng được giải phóng, nhiều hộ dân gốc Điện Quang cũng lục tục trở về quê, và bắt đầu quá trình tái định cư. Ông Chơi cho biết đây thực sự là một cuộc khai phá đất đai thực sự.
"Chúng đã nhiều lần dùng B52 và chất độc hóa học rải thảm, cày ủi để biến Điện Quang thành vùng đất trắng. Vùng Gò Nổi (nay gồm ba xã Điện Quang, Điện Phong và Điện Trung) cũng là mảnh đất hứng chịu những trái bom thừa do không quân Mỹ thả xuống, trước khi trở về căn cứ Đà Nẵng. Cũng vì mức độ tàn khốc của cuộc chiến ở khu vực này mà người ta thường hay nói:  "Nhất Củ Chi, nhì Gò Nổi".
Hồi đó, chỉ có cán bộ xã, thôn và những gia đình có liên quan đến Cộng sản ở lại bám trụ, vì sợ đến những chỗ mới bị chính quyền Sài Gòn truy nã. Trên mảnh đất có 1600 héc ta đất mà chỉ có vỏn vẹn hơn một trăm người ở lại bám trụ.
Kết thúc chiến tranh, riêng xã Điện Quang đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, với 115 Bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 5 Anh hùng Lực lượng Vũ trang, và 1.165 liệt sỹ và 312 thương bệnh binh", - cựu Chủ tịch Điện Quang Nguyễn Đức Chơi.
Nhờ có vàng bạc tích lũy trong quá trình tản cư, nhiều hộ dân đã không gặp khó khăn về kinh tế trong quá trình khai hoang, vỡ hóa đất đai. Trở ngại lớn nhất đối với họ lại chính là số lượng bom, hay rốc két, còn nằm trong lòng đất.
"Thỉnh thoảng lại nghe đùm một cái. Nếu không có người  chết, thì cũng bị thương, thậm chí mất chân, mất tay", ông Chơi nhớ lại.
"Bây giờ anh ra, thấy đồng ruộng bằng phẳng, nhưng ngày xưa có hàng ngàn tấn bom rải ở đây. Hơn nữa, do đồng ruộng, vườn tược đã bỏ hoang từ lâu, nên cây dại mọc lên trông như một khu rừng. Đêm nằm ngủ thì nghe chim rừng véo von, còn ban ngày, thỉnh thoảng, cha tôi và các bác, các chú, còn săn được heo rừng nữa", ông Chơi nói.
Nhưng thành công đó, tuy với cái giá không hề nhỏ, chưa phải là kỳ tích thực sự mà chính quyền và người dân Điện Quang đã làm được trong những năm tháng xây dựng nông thôn thời hậu chiến.
"Kỳ tích thực sự mà Điện Quang đã làm được trong những năm tháng đó chính là đã qui hoạch lại khu dân cư ở nông thôn và đồng ruộng theo kiểu bàn cờ, và, có thể nói, chúng tôi đã bắt đầu xây dựng lại nông thôn mới, theo những tiêu chí "nông thôn mới" của Chính phủ, ngay từ tháng 8.1975", cựu Chủ tịch xã Nguyễn Đức Chơi quả quyết.
Thời điểm 8.1975 mà ông Chơi nhắc đến gắn với việc lãnh đạo huyện Điện Bàn cử ông Võ Bảng, nguyên là Bí thư xã Điện Quang thời kỳ 1970-1973, được bổ nhiệm làm Bí thư một xã Điện Quang mới (gồm hai xã Điện Quang và Điện Hồng sáp nhập lại).
Chuyện ông Bảng kẻ "ô bàn cờ"
"Nguyên thủy của xã Điện Quang là làng mạc nó không ở tập trung thế này, nhà ở rải rác, đường đi thì nhỏ, lại đi ngoằn ngoèo. Nhưng do bom đạn chiến tranh, khu vực này trở nên tan hoang, ranh giới cũ cũng chẳng còn nữa, nên khi về đây thấy chỗ nào còn khả dĩ bằng phẳng thì chúng tôi tiến hành tái định cư.
Bất lợi của 4 lần địch chà ủi trong chiến tranh (1968, 1969, 1971 và 1973) lại là ưu thế cho việc qui hoạch lại", ông thầy thuốc Đông y Võ Bảng, năm nay đã bước sang tuổi 66, thủng thẳng bắt đầu câu chuyện.
Bản đồ quy hoạch xã Điện Quang
Vừa về nhận chức bí thư, ông bàn với lãnh đạo xã rồi cho tiến hành phân cụm, phân lô.
Ông cho lấy con đường, hiện nay đã trở thành tỉnh lộ, làm cái trục chính, rồi cứ đếm đủ 10 hộ, mỗi hộ được phân 600 m2 (mặt tiền 20m và chiều sâu 30m)  là làm một con đường cắt ngang. Phía sau con đường tỉnh lộ đó lại cho làm một con đường song song, với 10 hộ nữa "đấu đít" với 10 hộ ở mặt tiền tỉnh lộ. Như vậy, mỗi ô bàn cờ có tổng cộng 20 hộ.
"Hồi đó, toàn cây dại mọc um tùm, nên tôi phải cho phóng sào tre, rồi cắm cờ làm mốc. Bà con từ đó mới chặt cây dại, rồi cải tạo thành vườn và dựng nhà", ông Võ Bảng nói.
Khi chúng tôi hỏi liệu ông có đọc sách, hay mục sở thị mô hình qui hoạch đó ở đâu không, mà làm hay vậy, ông mủm mỉm cười:
"Tôi do điều kiện mồ côi, học hành ít, làm gì có điều kiện đọc sách, hay đi ra khỏi địa bàn huyện Điện Bàn, mà bảo học hỏi được từ người khác. Trong chiến tranh chỉ lo chống càn, chiến đấu thôi à.
Chỉ có điều, khi đó, tôi nghĩ rằng chính quyền Cách mạng về, làm gì thì cũng phải làm lợi cho dân hơn, làm đẹp hơn cái chính quyền cũ đã làm thì hẵng làm. Thôi thì cứ chia ô bàn cờ là đơn giản nhất. Vừa đẹp, mọi người lại vừa đỡ 'théc méc' chuyện thiệt hơn."
Theo ông, trước đây nhiều hộ dân chỉ được cớ 5-6 thước đất, ở chen chúc nhau, nay được phân 1,2 sào (ở miền Trung một sào rộng 500 m2), nên rất phấn khởi. Ông giải thích thêm rằng sở dĩ ông chỉ đạo cho phân một lô theo tỷ lệ 20.30 là vì như thế chuồng trâu bò và chuồng heo cách xa vừa đủ với nhà ở, đỡ mất vệ sinh.
"Nhưng chắc hẳn có những hộ trước kia có đất thổ cư và đất vườn rộng hơn 600 m2 chứ, chẳng lẽ họ không phàn nàn gì sao?", chúng tôi hỏi lại.
Ông lại cười: "Tư tưởng dân cũng thuận lợi. Anh nào theo chế độ cũ thì rất lo ngại, còn những người ở lại bám trụ thì "thông" lắm. Họ nói chiến tranh khốc liệt như vậy mà may còn sống sót được, thì đó là cái phước lớn nhất rồi, còn nay hòa bình lập lại, mấy cái tư hữu đó ăn thua gì."
Ông Võ Bảng, Bí thư xã Điện Quang thời kỳ 1975 - 1982
Cách ông làm cũng rất minh bạch. Gia đình có công với Cách mạng được ưu tiên chọn trước, sau đó mới cho tiến hành bốc thăm chọn lô. Còn những nơi có nhiều hố bom thì tiến hành san lấp và bố trí cho những hộ trở về sau.
Xong phần qui hoạch khu dân cư, ông Võ Bảng lại bắt tay vào việc cải tạo đồng ruộng để phục hồi sản xuất nông nghiệp. Và trở ngại đầu tiên đối với vị Bí thư mới ngoài 30 tuổi đời này là câu chuyện di dời mồ mả.
"Lúc đó, tôi có suy nghĩ thế này, nhìn về quê hương mình, nghĩ lại về quá khứ, thấy đó là một nơi hiển hách, nơi sản sinh ra nhiều danh nhân của đất nước, mình học cha ông không được nhiều thì cũng cố được chút ít cái hay. Cho nên, về đường lối chủ trương không được trái với Đảng và Nhà nước là được, nhưng mục tiêu phải làm sao cho đời sống dân mình khấm khá lên. Từ đó, tôi mới 'đẻ' ra nhiều sáng kiến", ông bộc bạch.
Theo ông nhớ, hồi đó đụng vào chuyện mồ mả ở nông thôn là căng thẳng lắm. Phải đi vận động từng nhà một, nói với họ rằng "người đẻ thêm mà đất thì không đẻ, nếu cứ để mồ mả ngoài ruộng như vậy, lấy đâu ra đất sản xuất để đời sống no ấm lên được".
Ý ông nghe hợp tình hợp lý là vậy, nhưng thực hiện thì không đơn giản. Ông phải tổ chức những người ở lại bám trụ trong trong thời gian chiến tranh làm nòng cốt, rồi bổ sung thêm những anh em trẻ có học hành, có nhiệt huyết, và bồi dưỡng cho họ cách vận động bà con. Còn ông chỉ lo việc kiểm tra, đôn đốc.
"Chỉ có những hộ nào anh em không thể thuyết phục nổi, tôi mới trực tiếp đi làm. Mình có phải ba đầu sáu tay đâu mà bao đồng", ông nói.
Lần lần, người nọ nghe, người kia nghe, rồi thành phong trào di dời mồ mả. Nhưng cũng phải đến năm 1980, xã Điện Quang mới hoàn tất cuộc di dời mồ mả sang khu vực được qui hoạch ở xã Thanh Châu (huyện Duy Xuyên) - quê hương của cố Thi sĩ Bùi Giáng.
(Duy chỉ có mộ của cụ Hoàng Diệu là trường hợp ngoại lệ, bởi theo cựu Bí thư Võ Bảng, đó là một di tích lịch sử của cả nước.)
"Ngay từ trong những năm chiến tranh, tôi luôn có suy nghĩ là làm cách mạng là phải làm những gì có lợi cho dân mình, có lợi cho Tổ quốc, chứ không phải chỉ có thuận lợi cho lãnh đạo. Như vậy, dù việc có khó mấy mình vẫn tranh thủ được lòng dân mà làm", ông đoan chắc.
Cho đến khi thôi làm bí thư xã vào năm 1982, để chuyển lên Ủy ban Mặt trận huyện Điện Bàn, ông cùng với ban lãnh đạo xã đã vận dụng tốt cái chủ trương mà mà sau này được coi là một sai lầm lớn là xây dựng "mô hình hợp tác xã cấp cao" với trình độ và tư liệu sản xuất còn hạn chế, tức là, theo lời của ông, "quốc hữu hóa mọi thứ từ ruộng đất, cày bừa, trâu bò, và cả sức lao động của mình nữa", để tạo dựng nền móng cho việc xây dựng một nông thôn mới ở xã Điện Quang.
"Trong 5 năm đầu xây dựng hợp tác xã theo kiểu miền Bắc, nhờ có chủ trương công hữu hóa đất đai chúng tôi mới thúc đẩy mạnh được việc di dời mồ mả, để qui hoạch lại đất sản xuất. Mô hình hợp tác xã cũng đã giúp cho chúng tôi có thể huy động được một lực lượng lớn nhân lực cho việc cải tạo lại mảnh đất, vốn đầy rẫy những hố bom và cả bom đạn nằm trong lòng đất, biến nó thành đất sản xuất. Đó là chưa nói tới hạ tầng thủy lợi và điện cũng được xây dựng trong giai đoạn này", ông Nguyễn Đức Chơi, người mà khi ông Võ Bảng thôi chức Bí thư mới đi học trung cấp nông nghiệp, rồi đại học, để khi trở về vào năm 1988, lúc chủ trương khoán hộ bắt đầu được triển khai ở Điện Quang, đã tiếp nối cái quá trình xây dựng nông thôn mới mà ông Võ Bảng để lại, đỡ lời.
"Khi hạ tầng đã ổn rồi, thì những bất cập của mô hình hợp tác xã, nhất là việc biến người nông dân trở thành người lao động công nhật theo tư tưởng "cha chung không ai khóc", mới bộc lộ ngày một rõ ràng. Chúng tôi cũng muốn thay đổi, nhưng lại ngại ngần, bởi việc không chấp hành chủ trương chính sách của Đảng - Nhà nước bị qui kết trách nhiệm lớn lắm", ông Nguyễn Đức Thành, Chủ nhiệm HTX Điện Quang kể từ năm 1982 đến tận bây giờ, người đã chứng kiến việc chuyển đổi mô hình HTX từ quản lý nhà nước và tổ chức sản xuất sang cung cấp dịch vụ, bổ sung thêm.
Ông Võ Bảng sinh vào cuối năm 1946, vào khoảng thời gianm Chủ tịch Hồ Chí Minh phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Cậu bé Võ Bảng mồ côi cha mẹ từ sớm, và nhờ bà con họ hàng mà học hết tiểu học, trước khi đi theo ông dượng học nghề thuốc đông y để tự mưu sinh.
Tuy nhiên, chưa kịp hành nghề thuốc, thì phong trào Cách mạng nổi lên ở Điện Quang, và chàng trai Võ Bảng đã tham gia chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bám trụ giữ quê hương. Rồi khi hòa bình lập lại, ông lại đi đầu trong việc xây dựng lại nông thôn mới trên quê hương mình.
Ông chỉ trở lại với nghề thuốc sau khi lên làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận huyện Điện Bàn, khi được thọ giáo ba vị danh y thuộc Hội Đông y Điện Bàn - một thành viên của mặt trận -, và chính thức hành nghề sau khi đã nghỉ hưu.
Người viết cũng đồng ý với ông, “nông thôn mới” hay “nông thôn cũ”, xét cho cùng, chỉ là vấn đề câu chữ. Điều quan trọng nhất là người dân nông thôn, nhất là giới trẻ, cảm thấy hạnh phúc, gắn bó với vùng quê mình đang sống, và hãnh diện về nó. Chứ không phải theo trào lưu “thả mồi bắt bóng” mà tìm đến chốn đô thành, để trở nên những công dân hạng hai, hạng ba ở đó!


Tác giả xin phép được nói rõ rằng câu chuyện xây dựng nông thôn mới ở xã Điện Quang là một câu chuyện nghiêm túc, có bài có bản và được phê duyệt đàng hoàng, chứ không phải chuyện nói chơi, hay nói cho "sang miệng". Cụm từ "Chuyện Chơi" ở tiêu đề là câu chuyện kể của ông Nguyễn Đức Chơi, Trưởng phòng Hạ tầng & Kinh tế huyện Điện Bàn, nguyên là Chủ tịch UBND xã Điện Quang, với tác giả.
"Anh biết vì sao tôi được huyện lấy lên phụ trách mảng phát triển hạ tầng & kinh tế không? Đó là vì trong 7 năm làm chủ tịch xã ở đây tôi đã cùng lãnh đạo xã xây dựng cho Điện Quang một giai đoạn phồn vinh, và Điện Quang đã trở thành một xã toàn diện của huyện Điện Bàn", ông Nguyễn Đức Chơi vừa pha trà mời chúng tôi, cũng vừa theo ông về nhà sau bữa "nhậu" ở đám giỗ bà nội của ông, vừa bắt đầu cuộc trò chuyện.
Cái "phồn vinh" mà ông Chơi nói xã Điện Quang đã bê tông hóa được tổng cộng trên 30 cây số đường giao thông trong xã, với mặt cắt từ 2 mét đến 4 mét (chủ yếu là 3 mét), hạ tầng thủy lợi và điện để ba phần tư đất sản xuất nông nghiệp được bảo đảm nước tưới. Đó là chưa nói tới hệ thống hạ tầng về giáo dục và y tế đều đạt chuẩn quốc gia.
"Nhưng cái tôi thích nhất là cần việc gì, từ triệu tập họp hành đến gọi xe đưa vợ đi sinh, cứ bấm điện thoại là xong. Hầu hết người dân đều có điện thoại bàn, hay điện thoại di động", ông Chơi hồ hởi khoe.
Cựu Chủ tịch xã Điện Quang Nguyễn Đức Chơi, nay là Trưởng phòng Hạ tầng & Kinh tế huyện Điện Bàn. Photo: Huỳnh Phan
Ông cũng cho biết thêm rằng cái khu vực cù lao nằm giữa hai nhánh sông mang tên Gò Nổi này đã không còn bị biệt lập với các vùng khác trong tỉnh, trong nước, thậm chí nước ngoài nữa, nhờ hệ thống Internet dùng luôn mạng điện thoại, và cả 3G nữa. "Các thầy cô giáo ở đây đều có máy tính xách tay hết, nên không lo lạc hậu về kiến thức để dạy học trò", ông Chơi nói.
(Tác giả đã kiểm chứng điều này, khi hơn 9 giờ tối mới gọi điện cho ông xin vài tấm ảnh tư liệu, và nhận được ngay qua email sau 15-20 phút.)
Có một điều mà ông Chơi quên không khoe, nhưng tác giả đã tự phát hiện ra khi lên mạng tìm thêm thông tin viết bài - đó là xã này có hẳn một website riêng (dienquang.net) với máy chủ nằm tận ở "hải ngoại" (Đà Nẵng). Mặc dù, nội dung được đăng tải trên website này vẫn cần phải cải thiện rất nhiều, nhất là với mục tiêu là quảng bá địa phương nhằm kêu gọi đầu tư mà lãnh đạo xã này đang rất kỳ vọng.
Nhưng, những gì ông Chơi để lại cho xã Điện Quang, trước khi lên huyện cách đây ngót nghét nửa năm, không chỉ có vậy. Một bản đề án xây dựng nông thôn mới đầy tham vọng, giai đoạn 2011-2015, đã được ông soạn thảo, khi trong Chương trình Mục tiêu Xây dựng Nông thôn mới đợt 2, Điện Quang và Điện Phước là hai xã đầu tiên được lãnh đạo huyện Điện Bàn chọn làm thí điểm.
Trong đề án này, việc tiếp tục qui hoạch hạ tầng giao thông xã vẫn được coi là một bước đột phá quan trọng. Cái khác biệt với các xã khác trong cả nước, theo ông Chơi, là đường trong xã, chủ yếu là nội thôn, đều rộng tới 5-7 mét.
"Ý đồ của chúng tôi là sẽ xây dựng Điện Quang như một thành phố ở trong làng quê, tức là sẽ huy động các nguồn vốn, bao gồm tiền ngân sách, kết hợp dự án và đóng góp của dân, để làm sao đổ bê tông hết mặt cắt của đường", ông Chơi nói tiếp.
Cũng theo đề án này, chính quyền xã sẽ tiếp tục vận động người dân lùi thêm vào, mỗi hộ có thể phải lùi tường rào khoảng nửa mét đến một mét rưỡi, tùy theo loại đường, để mở rộng đường, làm vỉa hè, làm hệ thống cống ngầm thoát nước, và trồng cây trên vỉa hè.
"Chúng tôi dự định sẽ chọn một loại cây đặc trưng của từng thôn để trồng ở hai bên từng con đường. Như vậy, vừa rẻ tiền giống, vừa mang bản sắc địa phương, lại vừa có hiệu quả kinh tế", ông Chơi nói.
Ông cho biết sẽ có thôn trồng toàn mít, có thôn trồng toàn xoài, nói chung là ưu tiên các loại cây có quả. Hiện hai thôn Bến Đền Đông và Bến Đền Tây đã thí điểm trồng xong toàn cau hai bên đường nội thôn.
Con đường trước trụ sở UBND xã này sẽ là phố chính của Thị tứ Điện Quang mấy năm nữa. Photo: Huỳnh Phan
Bước tiếp theo của việc xây dựng "thành phố trong nông thôn", ông Chơi nói, xã sẽ tiến hành đặt tên đường. Khi tác giả hỏi liệu ông sẽ đặt tên đường theo loại cây trồng hai bên hay không, như Phố Xoài, Phố Cau, Phố Hồng, Phố Na, Phố Cam, Phố Quít, Phố Mít, Phố Bưởi, hay, thậm chí, Phố Chôm Chôm..., ông Chơi bật cười:
"Tạm thời, theo qui chế của nhà nước, nông thôn chưa được phép đặt tên đường, nhưng, có lẽ, Điện Quang sẽ đặt tên đường theo số tự nhiên, hoặc số La Mã, để từ đó đánh số nhà. Chứ về lâu về dài, chúng tôi sẽ xin qui chế đặt tên đường theo các danh nhân, anh hùng liệt sĩ đã được nhà nước công nhận, khoảng trên 20 người", ông nói.
"Lúc đó, anh về tìm tôi, chỉ cần biết tên phố, số nhà tìm được ngay. Thay vì, cứ phải mất công hỏi nhà ông Chơi cán bộ huyện, cha của cậu Bời công an ở đâu", ông Chơi bật cười khoái trá.
"Đột phá thứ hai là đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp. Trước đây, làm chủ yếu là thủ công, tốn nhiều lao động. Nay cơ giới hóa tạo điều kiện giải phóng lao động, để họ ly nông làm những việc khác, và cũng là để cho những người làm nông nghiệp thực sự có thêm đất để làm", ông Chơi nói.
Việc đầu tiên phải làm là phải qui hoạch lại đồng ruộng theo hướng chuyên canh. "Ví dụ, doanh nghiệp muốn Điện Quang cung cấp đều mỗi vụ một ngàn tấn ớt để chế biến xuất khẩu, nếu để dân làm rải rác rất khó thu gom cho đủ, và đảm bảo chất lượng đều như nhau. Phải bố trí vùng chuyên canh để kéo điện tới nơi", ông Chơi giải thích.
Điện Quang có lợi thế là nằm ở giữa hai dòng sông, nên chỉ cần khoan sâu 6 mét là có thể dùng mô tơ hút nước tưới. Như vậy, ông Chơi hy vọng, một năm có thể làm tới bốn vụ màu.
"Mặc dù, quá trình xây dựng nông thôn mới ở xã Điện Quang đã bắt đầu ngay từ sau ngày hòa bình lập lại, nhưng, rõ ràng, nhờ có tiêu chí rõ ràng, công với nguồn đầu tư của Nhà nước, mà chúng tôi có thể làm bài bản hơn", ông Chơi nói.
Trong suốt thời gian làm chủ tịch xã, ông Chơi đã làm các đề án để đi vận động các nguồn đầu tư cho hạ tầng, chủ yếu từ ngân sách, được tới 50-60 tỷ. Nhưng với kế hoạch "bài bản" mà ông soạn thảo, chỉ trong vòng 5 năm (2011-2015) xã Điện Quang cần tới một số tiền gấp trên dưới 7 lần con số đó (khoảng 375 tỷ đồng), trong đó già phân nửa là nguồn vốn ngân sách, trực tiếp và gián tiếp thông qua việc lồng ghép với các dự án riêng rẽ khác của chính phủ.
"Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn đang trong cơn khủng hoảng thế này, và Việt Nam cũng không phải một ngoại lệ, việc cắt giảm đầu tư công có thể được quyết định bất cứ lúc nào, khi lạm phát gia tăng, cái di sản ông Chơi để lại cho người kế nhiệm, hiểu theo mức độ tham vọng của đề án, không khéo lại là một sự thách đố cực kỳ lớn. Đó là chưa nói tới sự phức tạp trong câu chuyện dồn điền đổi thửa sắp tới để xây dựng các vùng chuyên canh", người viết chợt thấy âu lo cho ông Tân Chủ tịch Trần Công Quảng .
Hơn nữa, theo bộ tiêu chí "Nông thôn mới" gồm 19 điểm, Điện Quang vẫn còn tới 7 tiêu chí chưa đạt.
Nhưng Tân Chủ tịch Trần Công Quảng đã tiếp nhận "sự thách đố" đó một cách hết sức bình thản.
Tân Chủ tịch xã Điện Quang Trần Công Quảng. Photo: Huỳnh Phan
"Chúng tôi làm bản đề án đó theo mẫu của Chính phủ trong Chương trình Mục tiêu Xây dựng Nông thôn mới, để căn cứ vào đó mà huyện phê duyệt để triển khai, để phấn đấu. Chứ lãnh đạo xã chúng tôi, kể từ thời anh Chơi còn làm, vẫn xác định phải tập trung vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả nông nghiệp và tăng thu nhập thực tế của người dân, cũng như đảm bảo ngăn làn sóng ra đi của lao động trẻ", ông Quảng giải thích.
Hiện nay, trong số trên 5000 lao động đăng ký hộ khẩu ở xã, có tới một phần ba, chủ yếu là thanh niên, ở cảnh "tha hương cầu thực". Họ đến Đà Nẵng, Sài Gòn, và những nơi khác, làm đủ nghề, từ công nhân trong các khu công nghiệp, thợ hồ, đến các nghề dịch vụ khác, và chỉ trở về vào dịp Tết.
"Hai đột phá mà anh Chơi nói (ở trên) cũng hướng tới mục đích làm Điện Quang trở nên hấp dẫn với các doanh nghiệp. Ngoài tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, và giữ thanh niên ở lại quê hương, việc doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp chế biến nông sản, về đầu tư ở đây cũng giúp thúc đẩy quá trình thành lập các vùng chuyên canh", ông Quảng nói.
Ông Quảng cũng không quên báo một tin vui là một doanh nghiệp may ở Sài Gòn vừa thỏa thuận lập mấy chuyền may ở Điện Quang, tạo việc làm cho ít nhất 500 lao động nữ. Sau 3 tháng nữa, khi xưởng may đi vào hoạt động, đây sẽ là doanh nghiệp thứ ba có mặt ở xã này, ngoài một xưởng dệt lụa và một nhà máy chế biến thủy sản.
Khi người viết hỏi liệu trong quá trình thực hiện nâng cấp hạ tầng giao thông nông thôn, liệu Điện Quang có nghĩ tới câu chuyện ở Thái Bình mươi lăm năm trước, khi chính quyền quá nôn nóng trong việc hiện đại hóa nông thôn (không kể chuyện biển thủ, xà xẻo phần đóng góp của người dân), ông Quảng cười:
"Thứ nhất, phần đóng góp của người dân, dự kiến khoảng 14% tổng vốn đầu tư, sẽ không phải dưới hình thức tiền mặt, bởi thu nhập bình quân đầu người ở đây có khoảng 15 triệu đồng/năm, lấy đâu ra mà đóng góp. Họ sẽ đóng góp bằng cách không nhận đền bù phần đất mà họ hy sinh để mở rộng đường, và bằng ngày công lao động trong quá trình thi công.
Thứ hai, chúng tôi sẽ không làm đại trà, mà sẽ chọn những nơi thuận tiện để làm trước. Chẳng hạn, chúng tôi sẽ triển khai trước ở hai thôn Bảo An Đông và Bảo An Tây, nơi được chọn để xây dựng thị tứ (trung tâm xã). Người dân thôn khác thấy điều đó có lợi cho họ, chắc chắn sẽ noi theo.
Và, cuối cùng, chúng tôi sẽ không cố gắng phấn đấu đạt tất cả các tiêu chí chưa đạt một cách máy móc theo kiểu chạy đua theo thành tích. Chúng tôi chỉ nhân có phong trào xây dựng nông thôn mới và sự hỗ trợ của nhà nước để phát động người dân toàn xã cố gắng nâng cao hiệu quả sản xuất, và cải thiện cuộc sống của chính họ."
Người viết cũng đồng ý với ông, "nông thôn mới" hay "nông thôn cũ", xét cho cùng, chỉ là vấn đề câu chữ. Điều quan trọng nhất là người dân nông thôn, nhất là giới trẻ, cảm thấy hạnh phúc, gắn bó với vùng quê mình đang sống, và hãnh diện về nó.
Chứ không phải theo trào lưu "thả mồi bắt bóng" mà tìm đến chốn đô thành, để trở nên những công dân hạng hai, hạng ba ở đó!

Chuyện về một làng nghề đã chết

Trong số những người mà nhờ nghề dệt của bà mẹ mà "nên người" có (cố) Họa sĩ Hoàng Kiệt, (cố) Giáo sư Ngôn ngữ Hoàng Phê, (cố) Giáo sư Vật lý Hoàng Quý và (cố) Giáo sư Toán học Hoàng Chúng, ngoài Giáo sư Toán học Hoàng Tụy.

"Có thể nói 1930-1931 là giai đoạn cực kỳ khó khăn với gia đình tôi. Người anh cả là một trong 5 Đốc học Đông dương đã bị sa thải vì bị Pháp phát hiện tham gia Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội, và một năm sau cha tôi (cụ Hoàng Kỵ) mất, khi tôi mới 4 tuổi và cậu em út là Hoàng Chúng còn nằm trong bụng mẹ. Tất cả nhờ nghề dệt mà mẹ tôi nuôi đã nuôi nấng chúng tôi nên người", Giáo sư Hoàng Tụy kể.

Trong số những người mà nhờ nghề dệt của bà mẹ mà "nên người" có (cố) Họa sĩ Hoàng Kiệt, (cố) Giáo sư Ngôn ngữ Hoàng Phê, (cố) Giáo sư Vật lý Hoàng Quý và (cố) Giáo sư Toán học Hoàng Chúng, ngoài Giáo sư Toán học Hoàng Tụy.
"Tôi còn nhớ gia đình tôi mang vải xo đi bán ở khắp nơi, từ Huế đến Hà Nội và Sài Gòn", GS Hoàng Tụy kể tiếp.
Theo cuốn "Địa chí xã Điện Quang" (NXB Văn học, 2011), việc dệt vải "xo" (tussor), từ tơ tằm, ở Việt Nam được một số người Pháp khởi xướng với xưởng dệt đầu tiên tại Phú Phong (Bình Định), do sự khan hiếm của vải Tây nhập ngoại dùng để may âu phục. Người Việt đầu tiên năm được cách thức dệt vải "xo" là ông Lê Đồng Lợi, người làng Đông Yên, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam), nhưng người mở rộng và phát triển nghề này cho nhiều hộ gia đình làm là ông Huỳnh Nam người thôn Xuân Đài (xã Điện Quang, huyện Điện Bàn), cháu gọi cụ Hoàng Kỵ (cha của GS Hoàng Tụy) là bác ruột, vào khoảng năm 1935.
Xưởng dệt từng có 200 công nhân làm việc trước 2008 bây giờ chỉ còn hoạt động với 1/10 công suất.Ảnh Huỳnh Phan.
"Mẹ tôi kể lại rằng cái xưởng dệt nằm ngoài vườn nhà tôi lúc đó có khoảng chục khung dệt. Ngoài ra, cha tôi còn "outsource" cho nhiều hộ khác trong thôn làm", ông Hoàng Gia Phúc, một cán bộ hưu trí hiện sống ở Đà Nẵng, kể lại.
Nghề dệt lụa tơ tằm ở Quảng Nam nói chung đã có lịch sử khoảng 400 năm, kể từ khi Bà Chúa Tằm Tang họ Đoàn, phi của Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, khai sinh nghề trồng dâu tại làng Đông Yên, huyện Duy Xuyên, trước khi mở rộng ra các nơi khác trong tỉnh, trong đó có khu vực Gò Nổi - nằm giữa hai con sông nên thổ nhưỡng rất phù hợp với nghề trồng dâu.
Cũng theo "Địa chí xã Điện Quang", trước Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt là giai đoạn 1940-1944, nghề trồng dâu ở Điện Quang rất thịnh, bởi ngoài việc phục vụ cho nghề ươm tơ - dệt lụa ở xã, khi tơ lụa của Điện Quang được xuất đi cả Nam Vang (Campuchia) và Ấn Độ, kén còn được cung cấp cho Đông Yên và vài xã khác của huyện Duy Xuyên.
"Ở Điện Quang, nghề trồng dâu - ươm tơ - dệt lụa còn tiếp tục đến giữa những năm '60, khi Mỹ đưa quân vào Đà Nẵng, và những ném bom, càn quét sau đó đã biến xã này thành một vùng trắng", cựu Chủ tịch xã Nguyễn Đức Chơi, người kể rằng cha vợ ông trong những năm '50 vẫn còn đi bộ gùi lụa sang Nam Vang bán, nói.
Khi hòa bình lập lại, cùng với việc xây dựng lại nông thôn mới và phòng trào hợp tác hóa nông nghiệp, kể từ năm 1979, nghề trồng dâu nuôi tằm ở Điện Quang đã được phục hồi.
"Cực thịnh nhất là giai đoạn 1987-1991, khi toàn xã có tới 400 héc ta dâu, tức là gần hai phần ba đất nông nghiệp", ông Chơi nói.
Trong những năm đó, lãnh đạo xã đã liên doanh với Công ty Dâu Tằm Tơ Quảng Nam - Đà Nẵng (năm 1989) để lập ra được một nhà máy ươm tơ. Trong đó, xã lo phần nhà xưởng, còn công ty ở Đà Nẵng chuyển máy móc, thiết bị về cho 400 công nhân làm việc.
Thế nhưng, ngày vui không kéo dài. Năm 1993, nhà máy này đã phải dừng hoạt động, do không tìm được đầu ra. Một năm trước đó ông Giám đốc Công ty Dâu Tằm Tơ Quảng Nam - Đà Nẵng, con người năng động với các mối qua hệ với đầy đủ các khách hàng từ Ý, hay Nhật, nghỉ hưu, và các mối làm ăn cũng rụng dần.
Chuyến đi Ý và nỗ lực không mệt mỏi của ông "quan xã"
Năm 1995, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng có tổ chức cho một đoàn doanh nghiệp, đại diện cho các ngành giày da, may mặc, dâu tằm, và chế biến thực phẩm sang Ý, theo lời mời của Thương vụ thuộc Đại sứ quán Ý tại Việt Nam. Đặc biệt, trong đoàn có một ông quan xã, nói chính xác hơn là hợp tác xã.
"Hồi đó, tôi làm trưởng bộ phận kế hoạch - định mức của HTX Điện Quang. Tuy ông anh tôi là Nguyễn Đức Thành là Chủ nhiệm HTX kiêm Giám đốc Nhà máy Ươm tơ, nhưng tôi là người quản lý trực tiếp và am hiểu về kinh tế - kỹ thuật của nghề này, nên được cử đi để đàm phán", ông Chơi giải thích.
Mục đích cử ông Nguyễn Đức Chơi đi Milano của ngành dâu-tằm-tơ tỉnh là muốn cứu nhà máy ươm tơ đã bị chết yểu cách đó 2 năm. Họ muốn kêu gọi người Ý bỏ vốn đầu tư vào nhà máy và bao tiêu hộ sản phẩm.
Nhiều làng nghề truyền thống đang mai một dần. Ảnh minh họa: làng nghề ươm tơ Cổ Chất, Cổ Lễ, Nam Định.
"Kết quả duy nhất mà tôi đạt được trong chuyến Tây du đầu tiên và duy nhất trong đời đó, kéo dài tới 10 ngày, là các đối tác chỉ gạ tôi mua máy móc của họ, và trích phần trăm cho tôi nếu ký hợp đồng, chứ không hề có ý định hợp tác làm ăn với chúng ta", ông Chơi vừa nói vừa nhếch mép.
Kể từ đó, ông Chơi thôi hẳn ý định tìm đối tác nước ngoài. Ông đọc báo đài, hỏi han người nọ, người kia về các doanh nghiệp ngành tơ tằm trong nước, rồi tự tìm cách tiếp cận trực tiếp họ. Và, trong một loạt các cuộc tiếp xúc tay đôi đó, có một lần, ông đã thành công.
"Một người bạn học làm Phó Giám đốc Công ty Phú Cường Silk ở Điện Thắng (Điện Bàn) đã giới thiệu tôi với anh Võ Đức Cường, và, kể từ năm 2002, anh Cường đã gắn bó với Điện Quang cho tới tận bây giờ", ông Chơi nói.
Lãnh đạo xã giao cho Phú Cường tiếp quản toàn bộ nhà xưởng của nhà máy ươm tơ cũ. Tiền thuê đất, sau 2,5 năm đầu tiên được giảm 50%, 3-4 năm tiếp theo chỉ phải trả 20 triệu đồng/năm.
"Xã ưu đãi như vậy là vì muốn tôi giúp khôi phục lại nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa truyền thống", Võ Đức Cường nói.
Lúc Cường về Điện Quang, diện tích trồng dâu ở xã này chỉ còn 17 héc ta, so với 400 héc ta cách đó 10 năm. Những người làm nghề dệt ở xã cũng theo bước cha anh lên Sài Gòn kiếm sống, và chủ yếu tập trung ở làng dệt "Quảng Nôm" ở quanh Ngã tư Bảy Hiền.
"Thời gian đầu, nhất là giai đoạn 2003-2005, làm ăn khỏe lắm. Lúc cao điểm một tháng nhà máy sản xuất được 30 ngàn mét vải, năng suất cao nhất Việt Nam luôn", Cường kể.
Thế nhưng, lại một lần nữa, ngày vui không kéo dài với ngành tơ tằm Điện Quang. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã lại một lần nữa phủ nhận những nỗ lực của lãnh đạo xã Điện Quang trong việc phục hồi một nghề vừa truyền thống vừa có ý nghĩa kinh tế - xã hội cao.
Nhà máy của Phú Cường ở Điện Quang, lúc cao điểm nhất đã tuyển khoảng 200 lao động địa phương, nay chỉ còn hoạt động cầm chừng với khoảng 20 công nhân. Họ chỉ đảm nhận một công đoạn "đánh sợi để mắc thành sợi dọc" cho cơ sở chính của Phú Cường ở Điện Thắng, nơi cũng chỉ hoạt động với một phần mười công suất và lượng nhân công tương ứng.
Nghề trồng dâu - nuôi tằm ở Điện Quang cũng chết hẳn một năm sau đó (2009). Để làm món "Nhộng trộn", món ăn không thể thiếu trong những ngày lễ hội, giỗ chạp ở Điện Quang, người dân ở đây cũng phải đi mua ở nơi khác.
"Nếu anh vào Sài Gòn đến đường Đồng Khởi, hay Lê Thánh Tôn, thì thấy trước đây 10 cửa hàng có đến 9 cửa hàng bán đồ tơ tằm. Nhưng bây giờ còn không quá 5%", Cường khẽ lắc đầu.
Các cụ vẫn nói: Trong cái rủi có cái may! Cường cũng chia sẻ điều này.
"Khủng hoảng, bên cạnh vô số mặt tiêu cực, cũng có cái tích cực của nó. Những "sinh vật yếu ớt, bệnh hoạn" sẽ bị đào thải, chỉ còn lại những "sinh vật" khỏe mạnh", ông nói, mắt lóe lên niềm hy vọng.
Đọc được sự hoài nghi trong ánh mắt của người viết, Cường tiếp lời luôn: "Xã vừa cho chúng tôi thuê một mảnh đất mới, rộng chừng 8000 mét vuông, để thí điểm một mô hình mới trồng sắn - nuôi tằm. Tôi tin sẽ hiệu quả hơn nhiều so với mô hình trồng dâu - nuôi tằm cũ."


Tiếng gọi nơi hoang dã

“Trong cái không thể tránh khỏi là khủng hoảng kinh tế toàn cầu, điều hữu ích có thể làm được là cố gắng tìm ra một hướng đi mới. Đối với tôi, đó là hợp tác với người Nhật để phát triển một loại tằm mới ăn lá sắn” – Võ Đức Cường, Giám đốc Phú Cường Silk.

Báo Nông nghiệp Việt Nam, trong số ra ngày 20.3 vừa rồi, có bài viết "Miền Trung - Tây Nguyên: Sắn đồng loạt phá vỡ qui hoạch nông nghiệp". Trong bài viết này, nhóm phóng viên đã lấy huyện Ea Kar, thuộc tỉnh Đắk-Lắk, là một trong những "case study". Diện tích trồng sắn ở huyện này đã tăng khoảng 50% trong có một năm, từ 4300 héc ta năm 2010 lên 6400 héc ta năm 2011, do giá sắn trên thị trường tăng cao.
Quan điểm của nhóm phóng viên đã được thể hiện rõ ràng trong sa-pô: "Diện tích sắn bùng phát tại miền Trung - Tây Nguyên không theo quy hoạch để lại quá nhiều hậu quả, mất rừng, môi trường xáo trộn, hoang hoá đất... Đáng buồn nếu nói dân đừng trồng loại cây trồng này là điều không thể, bởi đầu tư ít, dễ trồng, chịu hạn tốt lại chủ động được khâu thu hoạch. Chỉ một điều không ai lường được là giá cả."
Người viết bài này hoàn toàn không có quan điểm gì trái ngược, hay cần tranh luận thêm với các đồng nghiệp báo Nông nghiệp Việt Nam, hay các quan chức phụ trách nông nghiệp được nêu danh trong bài viết. Lịch sử nền nông nghiệp Việt Nam, kể từ sau năm 1975 tới giờ, đã chứng kiến không ít các thất bại đau đớn khi chạy đua theo phong trào, cũng như giá cả.
Có điều, từ câu chuyện của doanh nhân Võ Đức Cường của Phú Cường Silk, sẽ kể dưới đây, người viết muốn cung cấp thêm chút thông tin và dữ liệu cho các nhà làm qui hoạch và quản lý nông nghiệp tham khảo.
Mô hình thử nghiệm nuôi tằm hoang dã ở Eakar.
"Trong cái không thể tránh khỏi là khủng hoảng kinh tế toàn cầu, điều hữu ích có thể làm được, theo tôi, là cố gắng tìm ra một hướng đi mới", Võ Đức Cường tiếp tục câu chuyện.
"Hướng đi mới" của Phú Cường Silk là từ giữa năm 2011 họ đã hợp tác với người Nhật để phát triển một loại tằm mới - tằm ăn lá sắn. "Đó là lý do chúng tôi đã chọn huyện Ea Kar, một trung tâm sắn của tỉnh Đắk-Lắk, để thử nghiệm mô hình mới của mình", Cường giải thích.
Cùng với Yoshida, một doanh nhân và cũng là một chuyên gia kỳ cựu của Nhật Bản về nghề tơ tằm, Cường thuê một mảnh đất rộng chừng 1 héc ta ở Ea Kar, trong đó diện tích dành cho nhà xưởng chừng vài ngàn m2.
"Đây hoàn toàn không phải là giống tằm ngoại nhập, mà người dân miền núi phía Bắc Việt Nam, như ở Hòa Bình hay Hoàng Liên Sơn đã nuôi từ bao đời nay. Ngoài ưu thế chỉ ăn lá sắn, giống tằm này lại có khả năng đề kháng bệnh tật rất tốt, và vì vậy người ta còn gọi là tằm hoang dã", Cường nói, và cho biết thêm chính một công ty quốc doanh của Việt Nam đã có công lên miền núi tìm hiểu từ bà con dân tộc và nhân giống đưa vào phía Nam.
Một khác biệt quan trọng nữa của tơ tằm hoang dã là không kéo được tơ trực tiếp kén mà phải đánh kén ra thành bông rồi xe thành sợi, hệt như với cotton. "Điều này thì không có vấn đề gì, bởi tôi đã có sẵn máy móc nhập của Trung Quốc để dùng để xử lý kén tằm dâu loại 2, loại 3", Cường nói.
Điều quan trọng hơn với dự án của họ là tìm thị trường cho loại sản phẩm dệt từ tơ tằm hoang dã. Theo Cường, loại lụa dệt từ tơ tằm dâu (sợi dọc) kết hợp với tơ tằm hoang dã (sợi ngang) có những ưu điểm vượt trội so với lụa tơ tằm dâu thuần túy.
"Thứ nhất, do khối lượng riêng của tơ tằm hoang dã nhỏ hơn nhiều, nên loại lụa mới có khả năng cách nhiệt tốt. Thứ hai, nó thấm được mồ hôi và không dễ nhàu, mặc rất thoải mái và tiện dụng. Còn bít tất thì anh đi giày mấy ngày liền mà không sợ hôi chân", Cường nói.
Tuy nhiên, đó là câu chuyện của những năm sắp tới, khi tơ tằm hoang dã được sản xuất với khối lượng lớn và ổn định. Chứ hiện giờ, sau khoảng 2 tháng khi thu được mẻ kén đầu tiên, mối quan tâm chính của ông Yoshida, người trực tiếp quản lý cơ sở ở Ea Kar, chỉ là thu được kén.
Lứa kén đầu tiên
"Mấy tháng nữa, ông Yoshida sẽ cho lắp đặt máy móc trên đó để sản xuất chăn bông tơ tằm, xuất về Nhật. Loại chăn này tôi mua một chiếc ở Trung Quốc, giá đắt gấp đôi chăn bông thường, nhưng, bù lại, đẹp hơn nhiều, đắp lại vừa nhẹ vừa ấm", Cường nói.
Theo kế hoạch, khi đã thành công với mô hình nuôi tập trung, họ sẽ chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Khi đó, cơ sở của họ chỉ nhân giống tằm con, đến khi phải sử dụng nhiều lá thì bán cho nông dân làm tiếp, và thu mua tơ của họ.
Nếu biết hái lá nuôi tằm đúng cách, người nông dân có thể thu hoạch củ sắn với năng suất còn cao hơn hiện nay. Nhưng cái lợi của người nông dân, ông Cường, không chỉ dừng ở đó.
"10 ký kén thì hết 8 ký rưỡi là nhộng rồi. Nếu tôi tìm được nơi tiêu thụ nhộng, với giá khoảng 30 ngàn một ký, bằng giá cá tạp ngoài chợ thôi, thì người dân ăn không cái bông (tơ) rồi", Cường cười lớn.
Nhưng cái khó là người dân Việt Nam chưa quen với loại nhộng hoang dã này. Ông Cường tính có khi phải qua Thái Lan, vương quốc của "ẩm thực côn trùng", để tìm thị trường tiêu thụ, trước khi "nhập" ngược trở lại thói quen ẩm thực này.
"Mọi thứ vẫn còn ở phía trước, chứ từ nay đến cuối năm, chúng tôi đặt mục tiêu họ sẽ hoàn thành giai đoạn kiểm tra sức đề kháng của tằm hoang dã và năng suất kén, trước khi giao dần cho các hộ nông dân làm", ông nói.
Khi người viết hỏi ông, tại sao không thí điểm mô hình này ở Điện Quang, nơi có truyền thống hàng trăm năm về nghề tơ tằm, mà lại chọn vùng dân tộc thiểu số ở Đắk-Lắk, bởi với khu đất mới mà lãnh đạo xã đã giao cho công ty hoàn toàn có thể trồng sắn nuôi tằm mà, ông cười:
"Làng nghề truyền thống là một lợi thế lớn, nhưng cũng là một bất lợi không nhỏ. Bởi khi mình phổ biến kỹ thuật mới, người ta phá lên cười và bảo rằng cha ông tôi bao đời làm nghề này rồi, kinh nghiệm đầy mình việc chi phải học. Vậy tốt nhất là chọn những người không biết gì, dạy từ đầu dễ hơn."
"Thử nghiệm nuôi tằm hoang dã tại chốn "hoang dã" đúng là thuận lợi hơn, kể cả về con người, khí hậu, và thổ nhưỡng. Tiếng gọi nơi hoang dã mà", người viết thầm nghĩ.
"Doanh nghiệp ở khu vực Kansai, Nhật Bản tìm đối tác Việt Nam có thể sản xuất / xuất khẩu sợi lụa làm từ tằm hoang dã để phục vụ sản xuất tại Nhật. Số lượng đặt hàng là 150kg ~ 200kg / tháng. Mục đích là để làm phần lõi của thắt lưng (obi) của bộ Kimono của Nhật"  - VCCI/HCM, 20.10.2011.