Hiển thị các bài đăng có nhãn PS-KS. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PS-KS. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Nước rút đi, nỗi lo còn lại


Nước rút đi, nỗi lo còn lại
Trận lụt lịch sử ở Hà Nội đã gần như đi qua, để lại nhiều bài học cho chính quyền và người dân ở cái nơi được coi như có trình độ phát triển và văn mình nhất nhì đất nước trong việc ứng phó với thiên tai bất thường. Và những bài học này không chỉ nằm ở công tác cứu trợ trong lúc mưa lụt, mặc dù nó liên quan trực tiếp tới sinh mệnh con người. Chẳng gì thì cũng đã có hơn hai chục người đã thiệt mạng ngay giữa Thủ đô.

Câu chuyện hai bà cháu bà bán nước
Bà Nguyễn Thị Nhiên, có quán nước trà trên đường Thái Thịnh, quận Đống  Đa, ra Hà Nội làm dâu từ năm 20 tuổi. 50 năm qua bà đã chứng kiến đủ những đổi thay ở thành phố này. Những hồ ao, ruộng rau muống được thay thế dần bởi những đường phố mới, khu những chung cư,  hay những tòa cao ốc...
Nghề làm thuyền thúng của làng Sái quê bà, thuộc xã Quảng Minh, huyện Thanh Oai (Hà Tây cũ, Hà Nội mới), cũng mai một dần theo quá trình đô thị hóa ở Hà Nội. “Ngày xưa, khu Thái Thịnh này, rồi Hồ Tây, Thanh trì… toàn mua thuyền thúng của làng tôi để giăng lưới bắt cá, hay hái rau. Cả làng tôi hồi đó chỉ làm mỗi nghề đan thuyền nan”, bà Nhiên kể lại, và cho biết thêm cả làng nay chỉ còn 1-2 nhà đan thuyền, còn chuyển sang nuôi lợn, hay làm thuê linh tinh. 
Nhìn cảnh Hà Nội lụt như mấy ngày vừa rồi, bà Nhiên lại thấy tiếc cái nghề đan thuyền nan của làng mình. “Giá mà có nhiều thuyền thúng để mang hàng đi cứu trợ cho người dân bị cách ly trong các khu bị ngập lụt có phải tốt không, các bác nhỉ? Tôi nghe nói có những người phải mua gói mỳ tôm với giá 20-30 ngàn đồng”, bà chép miệng.
“Bà già lầm cẩm cứ hay lo. Không có thuyền nan thì đã có thuyền tôn, thuyền cao su. Chỉ có điều họ có muốn cứu trợ cho dân như các tỉnh khác họ vẫn làm khi có lũ lụt hay không thôi, bà ơi”, người cháu trai trong quê ra lấy nước gạo góp chuyện.
Vai trò chính quyền, đoàn thể
Mặc dù chính quyền Hà Nội đã tuyên bố về cơ bản Hà Nội đã hết lụt, nhưng có một khu vực cách Hồ Hoàn Kiếm chỉ dăm cấy số vẫn còn có cả ngàn hộ dân sống trong nước ngập. Đó là phường Ngọc Thụy, huyện Gia lâm, nơi cách đây dăm bảy năm luôn xuất hiện trong các trang báo, hay trang web buôn bán nhà đất. Thế mà suốt cả một tuần cái nơi mà mực nước lúc cao nhất đạt mức 1,5-2 mét này hoàn toàn bị lãng quên cả trong các báo cáo của ban chỉ đạo phòng chống lụt bão, lẫn trên hệ thống truyền thông đại chúng.
“Nếu thời tiết thuận lợi, không mưa nữa, tôi đảm bảo rằng nước sẽ rút hết khỏi phường Ngọc Thụy sau một tuần nữa”, ông phó Chủ tịch phường Nguyễn Nam Chính nói với NCĐT vào tối thứ 5 vừa rồi.
Sở dĩ có chuyện như vậy, bởi cái phường năm sát chân đê sông hồng và có diện tích bằng cả quận Hoàn Kiếm này chỉ có một cống thoát nước duy nhất phía dưới đường tàu hỏa (chạy qua cầu Long biên), còn hệ thống bơm nước phía sông Đuống chỉ được thiết kế để phục vụ tưới (cho nông nghiệp) mà không tiêu. Một lý do nữa là hệ thống ao hồ vừa bị người dân lấp đi bán đất, vừa bị chính quyền chủ động cho lấp để bán lấy tiền phát triển hạ tầng.
Ông Chính giải thích rằng cống thoat chậm là do quá nhỏ và bị tắc. Nhưng người dân ở Ngọc Thụy không nghĩ vậy.
Ông Nguyễn Á Phi, một cư dân ở đây, nói: “Chúng tôi được biết cống xả nước từ Ngọc Thụy sang khu vực phường Ngọc Lâm có đường Nguyễn Văn Cừ được mở rất nhỏ là để giải phóng ách tắc cho khu Ngọc Lâm có đường Nguyễn Văn Cừ nối Hà Nội với quốc lộ 5 và quốc lộ 1A. Người dân chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho mạch máu giao thông quan trọng này, cũng như hệ thống nhà máy, khu công nghiệp bên đó. Nhưng ít nhất đại diện chính quyền quận phải có một lời hỏi thăm, hay động viên chúng tôi, chứ đằng này chẳng thấy bóng dáng họ đâu.”
Mặc dù vẫn cố tiến hành một cuộc họp đã lên lịch trước về một vấn đề đã hết nóng là tôn giáo vào sáng 1/11, khi nước bắt đầu dâng cao, cuối cùng các lãnh đạo thành phố đã đến một số điểm nóng để chỉ đạo cứu lụt. Sự có mặt của họ, kéo theo giới truyền thông, chí ít cũng cho người dân thấy họ không đơn độc, và cũng cho thấy sự sẵn sàng đối phó những tình huống khẩn cấp như thế này được chuẩn bị như thế nào.
Thế nhưng, nhiều thuộc cấp của họ, nhất là ở cấp phường đã từ chối cái cơ hội thể hiện vai trò của mình với dân.
Chị Mai Thị Hạnh, thuộc phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, một trong những điểm bị ngập nặng nhất ở Hà Nội, cho biết: “Tôi sống ở đây đã gần 20  năm rồi, và chưa bao giờ chúng tôi thiếu bất cứ khoản đóng góp nào mà phường yêu cầu giúp đỡ bà con các nơi khi gặp thiên tai. Nhưng, khi chúng tôi bị ngập trong nước và ngày nào cũng phải bỏ 60 ngàn đồng thuê thuyền ra chợ mua thực phẩm, thì chẳng thấy chính quyền, đoàn thể đâu. Họ tồn tại để làm gì, hay chỉ để thúc dân thực hiện nghĩa vụ nọ, nghĩa vụ kia thôi?”
Còn ở khu vực đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính, những người đại diện tổ dân phố phải tự đi từng nhà kêu gọi nhà nọ san sẻ nước sạch, lương thực dự trữ cho nhà kia. Họ chỉ thấy mặt cán bộ phường sau 5 ngày, khi nước đã gần rút hết, để nhận chỉ thị huy động dân đi thu dọn rác thải.
Một điều đáng lưu ý nhất là hệ thống loa phường ở Hà Nội, vốn nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn xuất hiện trên truyền thông quốc tế như một công cụ tuyên truyền hữu hiệu ở cấp cơ sở, đã hầu như tắt tiếng ngay sau khi trời đổ mưa.
“Chính lúc này người dân cần thông tin về thời tiết, nhất là ở những nơi bị cắt điện không xem được ti vi, rồi chỉ dẫn về những đoạn đường ngập nặng để người dân tránh không đi. Chứ còn lúc bình thường, mọi tin tức, chủ trương chính sách chúng tôi đều có thể biết qua đài báo được”, ông Đỗ Trung Tân, một bí thư chi bộ ở phường Trung Hòa, bức xúc nói.
Sức khỏe đô thị quan trọng hơn diện mạo bên ngoài
Kiến trúc sư Việt Kiều Bùi Kiến Quốc, người đã có nhiều góp ý sắc sảo cho việc qui hoạch phát triển đô thị ở Việt Nam, nói: “Trận lụt vừa rồi đã cho thấy rõ sự quan tâm lệch lạc của chính quyền đô thị ở Việt Nam. Họ coi trọng phát triển bề nổi, bề ngoài với các tòa nhà, mà không để ý tới những những gì đang diễn ra trong cuộc sống đô thị”.
Ông Quốc cho rằng, đô thị giống như một cơ thể sống, nó có một số thành phần. Về ngoại hình, hay còn gọi là phần sĩ diện, phần giới thiệu ra bên ngoài, người ta thấy, thành phố có thể đẹp với hóa trang, hay nhuộm tóc vàng, tóc đỏ… Nhưng phần trong là trái tim, hệ thống mạch máu, thần kinh, nó quyết định cơ thể sống đó có khỏe mạnh, lành mạnh hay không. Vấn đề hệ thống giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cấp điện…, theo ông Quốc, thuộc về mạch máu. Khi mạch máu yếu mà không được chăm sóc, thì có sự cố sẽ dẫn tới vỡ tim, hay thiếu máu lên não, tức là tác động xấu đến văn hóa đô thị.
Ông Quốc đưa ra một giả thiết rằng nếu hai năm nữa, khi Hà Nội kỷ niệm 1000 Thăng Long – Hà Nội, có một trận mưa tương tự, sẽ chẳng có người dân nào đi xem hội, và bao nhiêu công trình chuẩn bị cho lễ hội sẽ lại bị ngập và phá hủy trong nước.
“Cơ thể khỏe mạnh, có dư tiền mà trang điểm càng hay. Nhưng nếu phải lựa chọn một trong hai, chính quyền Hà Nội nên ưu tiên tới sức khỏe. Mạch máu lưu thông, cơ thể khỏe mạnh, tinh thần phấn chấn, tự nó tạo ra vẻ đẹp tự nhiên. Chứ son phấn đắp lên cái mặt thiếu máu, một trận mưa là trôi tuột hết”, ông Quốc kết luận.
 Lưu Hương

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Nhiêu Lộc - Thị Nghè: 19 năm, 9 ngàn tỷ đồng


Nhiêu Lộc - Thị Nghè:

19 năm, 9 ngàn tỷ đồng

Vào những ngày tháng 8.2012 vừa rồi, chạy trên tuyến đường Hoàng Sa - Trường Sa, dọc theo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, trên chiếc Bonus 125, Carl Robinson - một phóng viên trẻ của hãng Associated Press (AP) ở Sài Gòn trước 30.4.'75 và hiện là tourguide ở cái tuổi ngót nghét thất tuần của Hãng Lữ hành "Mongkey Bridge" (Cầu Khỉ) do chính vợ ông điều hành - tỏ ra rất phấn khích.
"Thật tuyệt vời khi quay lại cái dòng kênh mà 40 năm trước đây toàn những mái nhà lụp xụp nằm san sát trên đó", Carl thốt lên.
Carl kể rằng, hồi đó, đây là nơi của dân tị nạn tứ xứ, sống trong những ngôi nhà lụp xụp, tạm bợ. Những hình ảnh đó bây giờ chỉ có thể phần nào tái hiện đâu đó quanh khu vực Khánh Hội.
Ông Lê Bá Cần, Bí thư quận ủy quận 1, lúc đó cũng là một cán bộ công tác tại liên quận 1 (gồm các quận 1, 3 và 10), lại lưu giữ một hình ảnh khác trong ký ức: một dòng kênh nước đen ngòm!
"Người dân lấn chiếm ở đó còn trồng rau muống dưới kênh. Cứ đến chiều là thấy họ đi cắt rau. Dòng kênh thì đen, còn rau cứ xanh mướt", ông Cần bật cười.
Hồi tháng 6.2010, tại cuộc đi chơi của báo Sài Gòn Tiếp Thị tại mỏm Đá Chim, chúng tôi đã nghe Đỗ Trung Quân hát về câu chuyện rau muống, theo giai điệu của bài "Tình Bắc - Duyên Nam" của Nhạc sĩ Xuân Tiên:
"Người từ là từ phương Bắc, đã qua dòng sông/ mang vào một giống rau dài, gọi là rau muống/ Người Bắc khen ngon, ơi người Bắc khen ngon/ còn người Nam, người Nam nói rằng: heo nó ăn/
Người từ là từ phương Bắc, đã qua dòng sông/ mang vào một giống rau dài, gọi là rau muống/
Ơi, trồng đất nó không lên/ bèn đem, bèn đem đi cầm quăng xuống ao."
Nhà thơ Đỗ Trung Quân, người từ sau Chiến dịch Mậu Thân (1968) có thời gian trọ học trong một căn nhà tạm ngay trên dòng kênh, rộng chừng 8 m2, đã xác nhận điều đó.
Quân giải thích rằng, những người sống quanh đó chủ yếu là người Bắc di cư năm '54, và họ mang theo rau muống nước từ Bắc vào. Sáng sáng, ngó qua cửa là thấy họ chèo ghe đi xịt thuốc rầy.
"Hồi đó, nước vẫn còn trong xanh lắm. Mình vẫn nhảy xuống kênh tắm thường xuyên mà, không hề bốc mùi. Chỉ không được lãng mạn như "Con kênh xanh xanh" của Ngô Huỳnh thôi", Quân thủng thẳng nói.
Theo Quân, con kênh bị ô nhiễm nặng là từ khoảng mươi năm sau giải phóng trở đi, khi cơ sở sản xuất mọc lên dọc hai bên bờ kênh ngày càng nhiều, mà thành phố chẳng thấy để tâm.
"Lúc đó, họ có quá nhiều thứ khác để bận tâm. Hoá chất xả xuống dòng kênh ngày càng nhiều, khiến nước trở nên đen như cà phê, nhưng mùi thì khác", Quân nói.
Xốc tới mà làm - 19 năm với gần 9 ngàn tỷ đồng
Ông Cần cho rằng, có được dòng kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, với màu xanh cây và màu của hoa cỏ dọc tuyến đường Hoàng Sa - Trường Sa ven kênh ngày hôm nay, là một kỳ công với bao tâm huyết của lãnh đạo thành phố, kể từ khi khởi công dự án này.
Dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đã được hình thành từ năm 1988. Nhưng mãi đến năm 1993 công việc giải toả phục vụ thi công mới được bắt đầu, và đến tháng 8.2012 vừa rồi lễ khánh thành mới diễn ra, nhưng chỉ cho giai đoạn 1.
Nhiêu Lộc - Thị Nghè năm 1993. Đỗ Trung Quân đang đứng từ căn nhà trọ lợp rơm (bìa phải) - Ảnh Tuổi Trẻ
Ông Phan Văn Tư, nguyên trưởng ban Bồi thường - Giải toả quận 1, còn nhớ mãi câu nói của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (lúc đó là Chủ tịch thành phố), khi thành phố bắt đầu dự án này, là "cứ xốc tới mà làm".
Ông Tư "Nhiêu Lộc" kể rằng "ông Tư Sang chỉ đạo rất quyết liệt trong tất cả các cuộc họp, và ngay mùng 4 Tết, ông đã xuống 'xông đất' và yêu cầu cán bộ quận 1 phải ra hiện trường, ra những chung cư mà mình đang xây dựng, những khu nhà tạm mà mình sắp sửa giải tỏa".
"Trước năm 1975, chế độ Sài Gòn cũ đã nhiều lần tìm cách giải tán người dân đi để thực hiện mưu đồ "tát nước để bắt cá", nhưng không được", ông Tư giải thích thêm về quyết tâm của chính quyền mới.
Người cựu phóng viên chiến trường Mỹ, nay đang định cư ở Úc, cũng khẳng định điều này. Carl nói: "Tôi biết khu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè là nơi Việt Cộng ẩn náu."
(Tuy nhiên, nơi Carl chứng kiến một "tù binh Việt Cộng" bị Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào thái dương trong sự kiện Mậu Thân (đợt 2 - 5.1968) lại ở nơi văn minh và sạch sẽ nhất dọc theo dòng kênh này - khu cư xá Đa Kao, dành cho dân công chức và cả người nước ngoài thuê nhà.)
Nhiêu Lộc - Thị Nghè hôm nay - Ảnh Tuổi Trẻ
Sau 19 năm với 8600 tỷ đồng vốn ODA của Ngân hàng Thế giới và vốn đối ứng được giải ngân, thành phố vẫn có thể hãnh diện vì một khối lượng khổng lồ những hạng mục đã hoàn thành. Những con số thống kê, được công bố vào ngày khánh thành, đã "back-up" cho niềm hãnh diện đó.
Đã có hơn 9 cây số của tuyến cống bao có đường kính 2,5 - 3m, 36 giếng chính và 59 thiết bị tách dòng để thu nước dọc kênh; đã có một trạm bơm có lược rác với công suất 64 ngàn m3/giờ và các thiết bị phụ trợ; đã kè được gần 16 cây số bờ kênh; đã có 1,1 triệu m3 bùn đất được nạo vét; đã xây dựng được 58 cây số cống hộp và cống tròn; và đã tái lập hơn 200 ngàn m2 mặt đường.
Và, đặc biệt, bắc qua con kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, chảy qua địa phận của bảy quận nội thành, có tới 16 cây cầu. Cứ trung bình một cây số có một cây cầu.
Chủ tịch thành phố bây giờ là ông Lê Hoàng Quân, trong buổi lễ khánh thành, đã hào hứng tuyên bố: "Việc thực hiện thành công dự án đã cải thiện đáng kể tình trạng ngập úng, ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe, từng bước nâng cao điều kiện, môi trường sống cho 1,2 triệu dân thuộc địa bàn 7 quận..., đồng thời tạo ấn tượng tốt cho các nhà đầu tư và du khách nước ngoài vào Việt Nam."
Nhận định của vị chủ tịch thành phố dường như được chia sẻ một phần bởi người "đồng danh dị họ" -  thi sĩ họ Đỗ mà chúng tôi đã nhắc tới ở phần trên. Quân bảo, giờ đây chạy xe qua cầu, từ quán nhậu bờ kè về quận Phú Nhuận, nơi ông đang sống, ông thấy yên tâm hẳn.
Chúng tôi, những người viết cũng yên tâm hơn, khi hình dung cái dáng liêu xiêu phi xe qua cầu giữa đêm khuya. Cầu rộng, có thành hai bên, nên cho dù "dáng phi rất mỏng như là phi nghiêng", thì, trong cảm giác "phiêu linh vô thức" sau một cữ nhậu tới bến, Quân cũng khó tìm lại cái thú lao mình xuống dòng kênh của thưở học trò.
Đã thế, nước vẫn còn bốc mùi lắm, dù đã đỡ ba phần, Quân ơi.
Còn Carl Robinson, người đã từng tổ chức nhiều chuyến đi bằng tàu trên sông Sài Gòn cho du khách nước ngoài, trong đó có cả những cựu phóng viên chiến trường, thì hào hứng ra mặt, với một viễn cảnh tương tự với dòng kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè.
"Có lẽ, ở thành phố này, điều du khách thấy ấn tượng và thoải mái nhất là với những chuyến du thuyền như vậy, kèm cả ăn nhậu", ông già, vốn rất khoái trốn vợ đi nhậu với chúng tôi mỗi lần sang Việt Nam, gật gù chiêm nghiệm.
Các cựu phóng viên chiến trường Mỹ và phương Tây đi du thuyền trên sông Sài Gòn vào trưa 30.4.2010 - Ảnh Huỳnh Phan
Pha chút tiếc nuối
Nhưng Quân vẫn thấy tiếc một điều, tiếc hùi hụi. Phải chi thành phố tính toán từ đầu mà đừng xây quá nhiều cầu, đặc biệt là toàn cầu thấp như vậy.
"Khi bắt đầu cải tạo, thành phố đã có dự định biến khu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè thành Venezia (Ý), cho du khách đi thuyền trên kênh mà ngắm thành phố. Nhưng họ quên tính rằng, khi nước lên, cầu xây thấp quá và dày quá như vậy, thuyền nào đi nổi. Về mặt du lịch, đó là vẫn là một dòng kênh chết", thi sĩ họ Đỗ, người mà thưở trọ học vẫn thỉnh thoảng mượn cái xuồng "sáng phun thuốc rầy, chiều hái rau muống" của bác Tư cạnh nhà để chèo lên mạn Thảo Cầm Viên chơi, buông giọng bất lực.
"Cho du khách đi tàu ngầm, tại sao không?", một trong hai chúng tôi chợt "thông minh đột xuất", khi chuẩn bị kết thúc bài viết này.
Phải gọi ngay cho Đỗ Trung Quân thôi! Du ngoạn bằng tàu ngầm trong vùng nước giữa Hoàng Sa và Trường Sa cũng có cái thú vị riêng, phải không Quân?
Và, trong lúc chờ đợi Trung tâm Công nghệ Nano của Giáo sư Nguyễn Chánh Khê tìm ra loại vật liệu trong suốt làm vỏ tàu ngầm, chúng tôi sẽ cùng hát lại bài "Em đi chơi thuyền trong Thảo Cầm Viên"...
Huỳnh Phan - Nam Tiến

Quả chuông cổ và hành trình trở về đất mẹ

Quả chuông cổ và hành trình trở về đất mẹ
TTCT - Đã 89 tuổi và ngồi xe lăn, nhưng khi cầm chiếc búa gỗ đánh vào quả chuông cổ, ông Watanabe Takuro - vị luật sư già - đã để lại một hình ảnh vô cùng ấn tượng cho những người khách tới dự lễ cầu nguyện hòa bình tại Bảo tàng Bắc Ninh trung tuần tháng 9 này.
Những hồi chuông thanh bình ấy như một hi vọng thật sự khép lại hành trình gian nan để trở về đất mẹ của một quả chuông cổ sau nhiều thập kỷ lưu lạc...
Luật sư Watanabe (phải) và sư trụ trì chùa Ngũ Hộ chia sẻ nỗi xúc động về số phận quả chuông cổ - Ảnh: H.Ngọc
Vào một ngày cách đây đúng 35 năm (tháng 9-1977), luật sư Watanabe, một người có thú sưu tầm đồ cổ, phát hiện một quả chuông đồng Việt Nam được bày bán tại một cửa hàng đồ cổ ở Ginza, Tokyo (Nhật Bản).
“Đọc xong những dòng chữ Hán trên một mặt của quả chuông, tôi đã có ngay ý nghĩ tìm cách mua lại quả chuông để trả lại cho ngôi chùa và những người dân ở khu vực đó. Cha ông họ đã dồn biết bao tâm huyết để đúc nên quả chuông này, thế mà lại có kẻ cướp đi của họ” - luật sư Watanabe nói với người viết.
Trên bản khắc ở một mặt của quả chuông có ghi bằng chữ Hán, tạm dịch: “Chiếc chuông của chùa Ngũ Hộ, làng Kim Thôi, thuộc Bắc Ninh, trước đây do loạn lạc bị mất. Dân làng đã đúc lại cái mới thay vào. Nhưng tháng 2-1825 chuông lại bị sơn tặc lấy đi mất. Dân làng hằng ngày đã quen với tiếng chuông chùa, giờ mất nó mọi người đều rất buồn và họ bàn cách làm chuông mới... Trải qua ba năm, tiền và đồng quyên góp được đem đúc, phần còn thiếu được mua vào cho đủ”.
Ông chủ tiệm đồ cổ cũng chỉ biết rằng kẻ đã cướp quả chuông đó và mang về bán cho hiệu đồ cổ ở Ginza là một viên sĩ quan Nhật, chỉ huy cái xưởng gỗ ở ngay trong ngôi chùa khoảng đầu những năm 1940.
Thế nhưng cái giá mà ông chủ tiệm phát ra làm luật sư Watanabe cảm thấy nản - những 9 triệu yen. Lượn qua lượn lại tới vài lần nữa, cuối cùng vị luật sư cũng khiến chủ tiệm mềm lòng, chấp nhận bán với giá 5 triệu yen - một số tiền vẫn cực kỳ lớn lúc đó. Ông đành về bàn với người bạn thân là một giáo sư sử học, hai người quyết định chỉ có cách kêu gọi quyên góp tiền mới mong chuộc được chuông.
Họ đã lập ra “Hội hoàn hương chuông cổ” và mời những nhân vật nổi tiếng như sư cụ Oshini Ryokei - trụ trì chùa Kiyomizu, sư thầy Huzi Nitatsu - trụ trì chùa Nihon zan Myohoji và nhà văn nổi tiếng Matsumoto Seicho đứng ra phát động phong trào quyên góp tiền. Về phần mình, luật sư Watanabe đã cùng với ông bạn giáo sư của mình đến ngân hàng rút hết tiền tiết kiệm mang đến đặt cọc cho ông chủ tiệm đồ cổ. Bởi cùng lúc đó, ông tình cờ biết rằng có một nghị sĩ Nhật cũng đang ngó nghiêng quả chuông.
Sau chỉ 2-3 tháng, số tiền quyên góp được đã lên tới 9,6 triệu yen, so với mục tiêu 7 triệu ban đầu - số tiền tối thiểu cần để mua quả chuông và chuyển nó về lại Việt Nam. “Nhưng chúng tôi còn gặp may hơn thế. Ông chủ tiệm cảm động trước tấm lòng của mọi người cũng quyết định tham gia quyên góp bằng cách giảm giá bán xuống còn một nửa” - luật sư Watanabe kể.
Trước khi quả chuông được trao cho phía Việt Nam, trong suốt nửa năm trên đất Nhật đã diễn ra những buổi lễ cầu nguyện cho quả chuông. Bắt đầu từ chùa Zojiji (Tokyo) vào ngày 7-12-1977, rồi chuyển sang Kyoto, Nara, Osaka và Kobe, trước khi kết thúc ở chùa Kaneiji (Tokyo). Tháng 6-1978, quả chuông đã được trao lại cho Việt Nam trong một buổi lễ trang nghiêm và cảm động ở chùa Quán Sứ (Hà Nội).
Quả chuông cổ lưu lạc suốt nhiều thập niên - Ảnh: H.Ngọc
Người giáo viên tiếng Nhật và cuộc truy tìm tung tích quả chuông cổ
Năm 1993, chị Komatsu Miyuki, giáo viên tiếng Nhật ở Hà Nội, một thành viên của “Hội hoàn hương chuông cổ” năm 1977, nhận được bức thư từ luật sư Watanabe. Trong thư, ông viết rằng nguyện ước cuối cùng trong đời ông là biết được số phận hiện thời của quả chuông cổ ra sao. “Tôi đã đến chùa Bút Tháp, nơi sau lễ trao chuông ở chùa Quán Sứ đã tiếp nhận quả chuông này, nhưng không thấy quả chuông đó. Những người ở chùa cũng không biết gì về quả chuông” - chị nói.
Sở dĩ quả chuông được đưa về chùa Bút Tháp vào năm 1978 là do chùa Ngũ Hộ - nơi quả chuông được đúc - đã bị quân Pháp phá hủy vào đầu những năm 1950. Hơn nữa, trong số 300 người quyên góp tiền đồng và vàng để đúc chuông, được ghi danh trên ba mặt còn lại của quả chuông cổ, có cả những người dân khu vực Bút Tháp.
Kể từ đó, cứ có dịp thuận tiện là chị Komatsu lại đi hỏi về tung tích quả chuông. Hỏi từ những hướng dẫn viên du lịch, bạn bè dạy tiếng Nhật ở Việt Nam, tới những người “có dính dáng” đến lễ trao chuông năm 1978. “Hầu như không còn ngôi chùa nào ở quanh khu vực Hà Nội, Bắc Ninh mà tôi không sục vào, ngó nghiêng mọi ngóc ngách. Thậm chí nghe phóng viên Minh Hà của Đài Tiếng nói Việt Nam bảo rằng có nhìn thấy một quả chuông cổ trong một ngôi chùa ở TP.HCM tôi cũng tranh thủ bay vào. Nhưng rồi thất vọng vẫn hoàn thất vọng” - chị Komatsu nhớ lại.
Thế rồi sau chín năm của cuộc truy tìm vô vọng, một người đã mang lại cho chị tia hi vọng mới. Đó không phải là một người Việt mà là phó giáo sư sử học Nishimura, rất giỏi tiếng Việt. Vị học giả này hỏi chị đã lên Bảo tàng Bắc Ninh, nơi ông có một người quen là giám đốc Lê Viết Nga, chưa. “Tại sao tôi lại không nghĩ đến Bảo tàng Bắc Ninh, mà cứ quanh quanh ở mấy cái bảo tàng tại Hà Nội nhỉ?” - Komatsu vừa kể lại vừa đập tay lên trán.
Nỗ lực không mệt mỏi của Komatsu đã được đền đáp. Cuối cùng chị đã tìm thấy quả chuông cổ trong một cái kho lưu trữ cổ vật. Dần dần, qua tìm hiểu những người có liên quan trong ngành bảo tàng ở Bắc Ninh, Komatsu mới dựng lại được quá trình lưu lạc của quả chuông. “Những người nhận chuông, tuy không hẳn không có lý khi đưa chuông về chùa Bút Tháp, nhưng họ đã quên một điều quan trọng rằng ngôi chùa này cũng đã có một quả chuông riêng của mình. Có lẽ vì vậy mà họ ít quan tâm đến một quả chuông của chùa khác (Ngũ Hộ), dù đó là một quả chuông cổ” - Komatsu tự lý giải về việc mấy năm sau quả chuông lại được giao cho Bảo tàng Hà Bắc.
Đến năm 1996, tỉnh Hà Bắc tách ra thành Bắc Ninh và Bắc Giang. Nhân sự chia đôi và đồ vật, cổ vật thuộc tỉnh nào về tỉnh ấy. Bắc Ninh xây bảo tàng mới và mọi cổ vật đều được đưa để nhờ vào một cái kho. “Khi nhìn thấy quả chuông nằm tít trong góc kho, sau một cái tủ, bụi phủ đầy, tôi suýt nữa đã òa khóc nếu không có người thủ kho đứng đó. Tôi sẽ kể thế nào với luật sư Watanabe đây?” - Komatsu kể lại trong trạng thái xúc động. Sự bức xúc của Komatsu dịu đi khi chị biết rằng không ai trong số cán bộ Bảo tàng Bắc Ninh biết chữ Hán.
Có chuông - không chùa, có chùa - không chuông
Trong lá thư gửi cho chị Komatsu năm 1993, cuối thư luật sư Watanabe gửi lời chúc: “Hỡi quả chuông Việt Nam, hãy ngân lên nguyện cầu cho hòa bình!”.
Vị luật sư, người đã tham gia phong trào phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam từ những ngày đầu và là một thành viên trong phái đoàn Luật sư dân chủ quốc tế đến Hà Nội cuối năm 1972 để điều tra tội ác của đế quốc Mỹ, vẫn còn nhớ chỉ ít lâu sau khi quả chuông, biểu tượng của sự yên bình, được trao lại cho Việt Nam, người dân nước này lại bị xô đẩy vào hai cuộc chiến tranh liên tiếp khác. Và ông cũng hiểu yên bình vẫn chưa trở lại hoàn toàn trên đất nước Việt Nam. Có điều ông đã quá già yếu để có thể làm thêm điều gì đó. Ông chỉ có thể tự tay đánh lên những hồi chuông nguyện cầu hòa bình cho Việt Nam.
Ông Lê Viết Nga - giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh - nói rằng khách tham quan bảo tàng, nhất là đi theo đoàn, nếu có yêu cầu, bảo tàng vẫn cho đánh chuông chứ không phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc “cấm sờ vào hiện vật”. Nhưng điều đó vẫn chưa làm luật sư Watanabe thôi day dứt. “Chuông chùa phải được đưa về chùa chứ, để sớm chiều người dân được nghe tiếng chuông ngân. Chính vì nhớ tiếng chuông mà người dân mới quyên góp tiền để đúc chuông tới lần thứ ba, sau hai lần bị mất cắp” - ông giải thích.
Và đó cũng là tâm nguyện của sư thầy Huệ Hồng, người trụ trì chùa Ngũ Hộ từ năm 2008, bảy năm sau khi ngôi chùa mới này được người dân xây lại trên một phần đất của ngôi chùa cũ. Sư thầy kể rằng sư đã cùng người dân và chính quyền thôn ba lần làm đơn xin rước chuông về.
Một thoáng ưu tư của vị luật sư già
Sáng 19-9 vừa rồi, trên đường đi thăm chùa Phật Tích, luật sư Watanabe nhận được một cú điện thoại của sư thầy Huệ Hồng khẩn khoản đề nghị ông hoãn chuyến bay về Nhật đêm hôm đó để ở lại dự lễ đúc quả chuông mới theo mẫu quả chuông cũ. “Quả chuông mới giống đến mấy cũng chỉ giống phần xác thôi, còn phần hồn sao so được. Trong tiếng ngân của nó hàm chứa bao tâm sự, bao trải nghiệm về một thời loạn lạc” - luật sư Watanabe ưu tư. Ông quả quyết rằng theo truyền thuyết, tất cả các quả chuông đều tìm cách trở lại ngôi chùa của nó.
Sư thầy Huệ Hồng mới đây cho biết sư đã suy nghĩ lại, thay vì đúc chuông mới, sư sẽ dùng số tiền đó để xây tháp chuông vì chùa Ngũ Hộ chưa có tháp chuông.
HUỲNH PHAN

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Chuyện nữ doanh nhân trẻ và chàng thi sĩ già


Chuyện nữ doanh nhân trẻ và chàng thi sĩ già

Nhờ cái biển hiệu "Ziều Đỏ Kwán" mà ánh mắt của tôi đã chuyển từ cái ngõ cụt tối thui để hướng lên bầu trời, rồi theo Đỗ Trung Quân lên con điều biếc và nhìn xuống quê hương mình - đúng cái quê hương mà anh đã tả trong bài thơ "Bài học đầu cho con".
LTS: Kể từ khi vào Trung tâm Báo chí nước ngoài (đầu năm 1993), rồi được cử sang làm ở báo Nikkei (Thời báo Kinh tế Nhật Bản), năm nào phóng viên Huỳnh Phan cũng có dịp đi công tác Sài Gòn. Ít thì vài ba lần, nhiều thì cả chục lần.
Nhiễm cái thói quen hít thở bầu không khí khoáng đạt của đất Sài Gòn, cảm giác nhớ hơi ấm của đất phương Nam mỗi khi Hà Nội đón đợt gió mùa Đông Bắc đầu tiên, khiến Huỳnh Phan vẫn tìm mọi cách để xin vào Sài Gòn công tác, khi đã chuyển về những tờ báo như Sài Gòn Tiếp Thị (trụ sở chính tại Sài Gòn), hay Vietnamnet (có văn phòng đại diện tại Sài Gòn).
Trong suốt gần 20 năm qua, Huỳnh Phan đã gặp nhiều người thuộc các giai tầng khác nhau trong xã hội, đã chứng kiến không ít sự kiện, và đã nghe nhiều câu chuyện.
Tuanvietnam xin được giới thiệu những ghi chép của phóng viên Huỳnh Phan trong một tiêu đề chung là "Sài Gòn ký sự", không nhất thiết phải liên tục, về những nhân vật, sự kiện, hay những câu chuyện 'hóng hớt" được trong những chuyến đi đó.
Mở đầu cho "Sài Gòn ký sự" là những ghi nhận về một buổi tối thứ Bảy tại quán Ziều Đỏ, mới được mở vào ngày 8.3 vừa rồi, và chủ nhân của nó chính là nhà thơ Đỗ Trung Quân - người kể từ 1.7 này sẽ không còn hợp đồng với báo Sài Gòn Tiếp Thị. "Nhà báo già" (Đỗ Trung Quân sinh năm 1955) đã quyết định "về hưu non" (đến năm 2015 anh mới đủ tuổi hưu).
Hoa Lài, một doanh nhân trẻ xuất thân là phóng viên, có một cuộc hẹn trả lời phỏng vấn cho một đồng nghiệp, người muốn nghe những cảm nhận của cô về một cuộc hội thảo do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức trước đó 2 ngày, tại quán "Ziều Đỏ". Anh ta giải thích rằng, ngồi nghe cả buổi mà anh ta vẫn chưa tìm ra được mạch viết cho mình, nên muốn mượn cô làm người dẫn chuyện.
Khi tới nơi, ngoài người đồng nghiệp (chính là tác giả bài viết này), cô còn thấy có một vài người khác. Đặc biệt, có một người đàn ông nhỏ thó, gầy gò, với đôi mắt có vẻ liên láo. Vẻ ngại ngùng chợt thoáng hiện trên khuôn mặt cô, trước khi cô cố nở một nụ cười để lấy lại sự bình thản cần thiết của một doanh nhân.
Tất cả đều không lọt qua được đôi mắt tinh ranh của người đàn ông đó. Ông ta vụt cúi người ngó xuống dưới chân bàn, mắt hướng về phía Hoa Lài. Mặt cô đỏ lựng lên, căng thẳng. Cô quay về phía tôi như muốn hỏi: "Bạn của anh sao kỳ cục vậy?"
Nữ doanh nhân Hoa Lài
"May quá, không đi vớ (tất) xanh", người đàn ông đó thốt lên, mừng rỡ. Hai người bạn ngồi cùng bàn, chắc đã ngồi nhiều ở quán này, bật cười theo.
Tôi, theo thói quen, cũng ngoác miệng cười "hôi". Mặc dù, tôi cũng ngỡ ngàng như Hoa Lài.
Tối hôm đó, Hoa Lài mặc bộ áo đầm hoa màu đỏ, chân cũng đi giày đỏ. Làm trong lĩnh vực truyền thông, cô rất có ý thức về sự hòa hợp giữa hình ảnh và bối cảnh - đến quán "Ziều Đỏ" mà.
Vì vậy, cô càng thấy ngỡ ngàng về cách hành xử kỳ cục của người đàn ông đó, cũng như sự phụ họa nhiệt tình của đám bạn của ông ta. Mắt cô mở to, ngơ ngác.
"Xin giới thiệu đây là nhà thơ Đỗ Trung Quân - tác giả của câu thơ "quê hương là con "Diều Biếc", và cũng là chủ nhân của quán "Ziều Đỏ" này", tôi lên tiếng phá vỡ sự lúng túng đó.
"À, thảo nào", Hoa Lài thở phào, gương mặt giãn ra trở lại, - "Vậy tại sao anh không đặt tên quán là 'Diều Biếc'. Mà lại còn bày đặt viết là 'Ziều Đỏ' nữa?"
"Tại sao không phải là "Diều Biếc', xin cô hãy tự tìm hiểu. Còn tại sao là 'Ziều', chứ không phải là 'Diều', là vì tôi muốn học gương bậc tiền nhân, đơn giản hóa tiếng Việt", Quân vừa tưng tửng đáp, vừa vớ lấy chai rượu "Ông già chống gậy", rót một lượt cho mọi người.
Nhà thơ Đỗ Trung Quân
Khi cụng ly, Quân hướng về phía Hoa Lài, rồi cất giọng bình phẩm: "Đầm đỏ, giày đỏ, má đỏ, môi đỏ... Giá có Huy Đức ở đây mà kể chuyện đời mình, thì đôi mắt em tôi sẽ đỏ hoe luôn. Lúc đó, mới đúng là "tông xuyệt tông" tới từng mi li mét."
Hoa Lài nhoẻn miệng cười. Nụ cười lần đầu tiên từ lúc cô tới đây.
Cô bảo rằng cô chỉ được gặp Huy Đức trên facebook thôi. Và hình dung của cô về nhà báo nổi tiếng này là một người đàn ông có cái miệng rất tươi (sản phẩm của Đấng Tạo hóa?), có một cặp mắt vừa sắc sảo vừa đằm thắm, và luôn có những câu đối đáp rất thông minh, hóm hỉnh.
"Không ngờ, như anh Quân nói, đời tư của anh Huy Đức lại buồn đến như vậy", cô khẽ nói.
Nhưng trong ánh mắt của Hoa Lài tôi thoáng thấy sự tiếc nuối, lẫn vẻ hơi ngờ vực. Chắc cô nghĩ Quân "dìm hàng", tôi cười thầm.
Cũng vì vậy, tôi đã không dám góp chuyện với Quân. Lúc sáng, khi đến quán lần đầu, tôi gặp Huy Đức vội vã ghé qua lấy một bịch thuốc tướng, cả thuốc huyết áp, tim mạch, lẫn dạ dày, mà anh nhờ cô bác sĩ - một trong những người hùn vốn mở quán với Quân - mua hộ.
Những người bạn của Huy Đức và Đỗ Trung Quân đều nhận xét rằng, không có biệt tài làm đỏ hoe những cặp mắt mở to, mơ màng, như Huy Đức, Quân lại có cái duyên riêng để luôn giữ được những nụ cười chúm chím trên những cặp môi mọng đỏ.
Tối hôm đó, Quân kể nhiều chuyện lắm. Từ chuyện thơ, chuyện nhạc, đến chuyện đời, chuyện báo. Chả chuyện nào liên quan đến chuyện nào, nhưng lại có vẻ rất có lang - có lớp, có chuỗi - có xâu. Có những chuyện tôi đã nghe có dễ đến chục lần, vậy mà vẫn thấy buồn cười.
Thảo nào, cả buổi tối hôm đó, Hoa Lài hầu như không nói. Cái miệng xinh xắn của cô cứ mải cười.
Tối hôm đó, Quân bao cả bàn, và bảo mọi người gọi thỏa thích.
"Lần đầu tiên có chàng Ngọc (tên tôi) từ Hà Nội vào tới quán của Quân, nên Quân mời các bạn. Còn từ lần thứ hai, Quân sẽ "chặt" (charge)", chàng thi sĩ già vừa nhe hàm răng gắn đầy dấu ấn của thời gian, và có lẽ đúng hơn là khói thuốc, vừa giơ ra mảnh bìa có vẽ hình người chủ quán gí súng vào thực khách.
"Đây là tấm bìa do mình tự vẽ, đưa kèm với "bill" thanh toán cho khách. Có giời mà chạy", Quân giải thích.
Nghe Quân nói, tôi chợt nhớ ngay tới câu chuyện được nghe từ Hòa thượng Thích Huyền Diệu, người sáng lập nên 2 ngôi chùa Việt Nam tại đất Phật là Việt Nam Phật Quốc Tự tại Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) và Lâm-tì-ni (Nepal), rằng các chủ nhà hàng người Việt ở hải ngoại đã kinh ngạc thế nào khi lần đầu tiên được nghe những khách từ Việt Nam, nhất là từ miền Bắc, sau khi ăn uống no say, đã kêu họ lại đòi "thanh toán" - một từ chỉ dùng tron câu chuyện giải quyết ân oán giang hồ giữa các băng nhóm xã hội đen.
Quân cầm bản thực đơn ra giới thiệu với mọi người về các món đặc sản của "Ziều Đỏ", món nào món nấy đọc tên là đã thấy hấp dẫn. Nào là "cá điêu hồng sốt chanh dây", nào là "cá Hoàng Đế sốt xí muội", nào là "cá điêu hồng tẩm mè", nào là "hàu bỏ lò" nào là "thỏ cuộn rau củ"...
Và nhất là món "bò Mỹ nướng Teppanyaki (nướng thiết bản kiểu Nhật), được chuyên gia ẩm thực Số Zách của báo Sài Gòn Tiếp Thị là Ngữ Yên viết riêng một bài giới thiệu. Đọc xong là muốn nuốt nước miếng ừng ực!
Quán Ziều Đỏ của nhà thơ Đỗ Trung Quân
Quân khoe rằng tất cả những món trên đều do một cậu đầu bếp mà Quân mới tuyển chế biến. Được Ngữ Yên khen thì hẳn anh ta không phải tay vừa, tôi nghĩ.
"Cậu bếp trưởng này tên là Đua, vậy mà dễ thương lắm. Khách phàn nàn điều gì, mình kêu ra nạt, cậu ta cứ gãi đầu gãi tai xin lỗi ngay, rồi sửa liền", Quân nói.
Quân còn kể rằng, cũng có lẽ vì cái đức hiền lành, chịu thương chịu khó, và phục thiện đó, có một cô gái xinh xắn, chân dài, con nhà tử tế hẳn hoi, cứ nằng nặc xin vào làm phụ bếp cho bếp trưởng Đua.
Quân đã hỏi rằng hình thức ngon lành như cô thế này, thì khối gì việc nhàn nhã hơn, mà sao phải chui vô bếp, mồ hôi mồ kê cho cực. Cô bé, theo lời Quân kể, nhoẻn miệng cười e lệ, và lí nhí đáp: "Dạ, con chỉ muốn học được nghề của anh Ba thôi."
"Nghe cô bé cứ một điều anh Ba, hay điều anh Ba, mắt lại chớp chớp, mà thấy ghét. Phải chi mình biết nấu ăn... Mà Ba Quân nghe nó oai hơn hẳn Ba Đua, đúng không nào?", Quân như tự nói với mình, rồi khẽ thở dài.
Trong lúc mọi người đang phân vân không biết chọn món gì, Quân đã gọi ngay cho mỗi người một tô mỳ Quảng - một món mới của quán.
"Ăn chút lót dạ, để còn uống lai rai", Quân nói.
Mỳ Quảng ở Ziều Đỏ quả thật là ngon, và tô mỳ còn to thiệt là to nữa. Tôi đã ăn đến sợi mỳ cuối cùng, và còn húp cố những giọt nước lèo cuối cùng. Những người khác cũng xuýt xoa khen ngon.
Chỉ có điều, sau tô mỳ Quảng, chẳng ai còn bụng dạ mà chọn món nữa. Quân đành gọi cho bọn tôi thêm đĩa đậu phộng, ngồi nhấm lai rai.
Tôi bảo Quân rằng, món này nên gọi là món "lèn dạ", chứ không phải là "lót dạ" nữa. Quân nhe răng cười, bảo: "Đúng ý, đúng ý."
Đến khoảng chín rưỡi, khi câu chuyện, do MC Đỗ Trung Quân dẫn dắt, vẫn đang rôm rả, Hoa Lài đột ngột đứng dậy. Cô xin phép ra sân bay đón bạn từ hải ngoại về.
Nhìn cái dáng đi dứt khoát một cách khác thường của cô, tôi hiểu cô vẫn muốn nấn ná thêm với Quân.
Đây cũng là lý do mà tôi đành phải lỡ hẹn với các đồng nghiệp Sài Gòn Tiếp Thị đến sang năm, khi kỳ hội thảo tiếp theo được tổ chức. Lần tới, dứt khoát tôi sẽ mời cô ra quán cà phê để phỏng vấn. Cầu Trời cho quán này ăn nên làm ra, để cho Quân đừng chuyển sang kinh doanh cà phê!
Chúng tôi ngồi đến tận hơn 11 rưỡi mới rời quán. Các quán kế bên, cũng như nhà dân trong ngõ, đều đã tắt đèn từ bao giờ rồi.
Trong lúc chờ người bạn lấy xe, tôi ngước nhìn lên tấm bảng hiệu "Ziều Đỏ Kwán". Đó là thứ ánh sáng duy nhất trong cái ngõ cụt đã chìm sâu vào giấc ngủ.
Bất giác, tôi ngước lên thêm chút nữa...
Tôi nhớ, Quân đã từng giải thích với một nhà báo khi mở quán: "Thuở bé, tôi thích một vành trăng non xanh biếc, cong như một cánh diều, nơi ấy có chú bé mộng mơ ngồi vắt vẻo giữa lưng chừng trời..."
Tôi chợt hiểu, tại sao Quân đặt tên quán là "Ziều Đỏ"... Vào Sài Gòn lần tới, tôi sẽ kể cho Hoa Lài nghe những gì tôi đã mục kích được vào những giây phút đó.
Chính nhờ cái biển hiệu "Ziều Đỏ Kwán" mà ánh mắt của tôi đã chuyển từ cái ngõ cụt tối thui để hướng lên bầu trời, và theo Quân lên con diều biếc mà nhìn xuống quê hương mình - đúng cái quê hương mà Đỗ Trung Quân đã tả trong bài thơ "Bài học đầu cho con".

Ký sự Cao Bồ


Vị giám đốc và lời “thách thức” 200 ngàn đô

Điều thú vị nhất là thách thức lần này lại đến từ một định chế tài chính có cái tên rất “thách thức” là Quỹ Thách thức Việt Nam (VCF). Những người quản lý quỹ này đã “thách” các doanh nghiệp Việt Nam đưa ra các ý tưởng kinh doanh mới mẻ và táo bạo, và nếu thấy khả thi họ sẽ chia sẻ một phần những rủi ro, nếu có, ở mức độ cao nhất là 49% số tiền bỏ ra thực hiện.

LTSVào thượng tuần tháng 6 vừa rồi, phóng viên Huỳnh Phan có tham gia một chuyến đi thực địa do Ngân hàng Phát triển châu Á tổ chức lên Hà Giang, nơi có dự án chè hữu cơ Cao Bồ.
Đây là một trong 7 dự án do Quỹ Thách thức Việt Nam (VCF) tài trợ, nhằm mục tiêu phát triển thương hiệu cho sản phẩm chè Shan cho các thị trường diện hẹp giá trị cao, và thông qua đó góp phần ổn định và ngày càng nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè ở xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
TuanVietnam xin trân trọng giới thiệu những ghi chép của phóng viên Huỳnh Phan trong chuyến đi này.
Năm 1976, có một quân nhân vừa phục viên với quân hàm thượng sĩ, quê ở Nam Định, mò lên đất chè Hà Tuyên (hợp nhất từ hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang vào tháng 12.1975), kiếm việc làm.
Ý nghĩ của anh lúc đó là cái miền quê cũ "đất chật người đông" đầy tù túng đó không còn chỗ cho một người đã quen với sương gió, mạo hiểm trên khắp các chiến trường miền Nam, cũng như Lào, hay Căm pu chia. Vả lại, trên đất Hà Tuyên, anh có một đồng đội cũ.
"Lúc lên, tôi cứ nghĩ, mình còn trẻ, cứ thử bay nhảy, không hợp thì lại đi chỗ khác. Không ngờ...", Giám đốc Công ty Chè Hùng Cường Nguyễn Thanh Hùng, tên chàng trai đó, kể lại.
Lên tới thị xã Tuyên Quang, thủ phủ của tỉnh Hà Tuyên lúc đó, Hùng xin được một chân ở Công ty Ngoại thương tỉnh, và làm ở đó đến năm 1991, khi Hà Tuyên lại được tách trở lại thành Tuyên Quang và Hà Giang. Công ty Ngoại thương lại được tách làm đôi, và Hùng được phân công phụ trách Công ty Ngoại thương Hà Giang.
Giám đốc công ty chè Hùng Cường (ảnh phải). Ảnh: Huỳnh Phan
Bỏ nhà nước - con đường của người thích đột phá
Chỉ đến thời điểm đó, cái chất phóng khoáng, thậm chí hơi liều mạng, của người đàn ông gốc Nam Định mới được bộc lộ hết. Cánh cửa của cơ chế kinh tế bao cấp vốn đang khép chặt đã tự nhiên được hé ra, như một kết quả ban đầu của luồng gió "đổi mới", đã được ông Hùng liều mở toang ra. Với cả sức bung của đôi cánh tay đã bị "trói" lâu ngày.
Ông đã đa dạng hóa lĩnh vực và mặt hàng kinh doanh, cho mở hàng loạt chi nhánh ở Hà Nội, Hải Phòng..., để mở hướng liên doanh, liên kết và xuất khẩu.
"Sau dăm bảy năm, công ty làm ăn phát đạt hẳn lên, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng, và thuế nộp cho nhà nước cũng lên tới vài tỷ. Đời sống cán bộ, nhân viên trong công ty cũng vì thế được cải thiện. Ai cũng vui", ông Hùng nhớ lại.
Có điều, vẫn có những người không vui. Tuy là thiểu số, nhưng họ lại có tiếng nói lớn. Họ qui kết cho ông tội "vượt khung", "vượt rào".
"Giải thích mãi không được, tôi tức mình xin về hưu. Tôi ra ngoài, mở công ty riêng. Sướng nhất là mình được tự quyết", ông nói.
Công ty Hùng Cường đã ra đời năm 1988.
Lúc đầu, ông làm ăn nhỏ, chủ yếu là thu mua chè, sản phẩm chủ lực của Hà Giang và cũng là mặt hàng thế mạnh của cái công ty ngoại thương mà ông vừa rời bỏ. Các mối quan hệ làm ăn chính là cái phần thưởng mà công ty ngoại thương này đã phải "bất đắc dĩ" tặng cho ông, để làm vốn ra ở riêng, sau những gì ông đã gầy dựng cho họ.
Chè thu mua được trong dân, phần thì ông đem bán ở thị trường trong nước, phần thì bán sang Trung Quốc, phần còn lại thì xuất khẩu ủy thác qua các thị trường khác. Cũng trong thời gian này, ông đã liên kết được với một công ty ở Vân Nam để sản xuất chè Phổ Nhĩ, và từ đó dần học được bí quyết của họ.
Với số tiền tích lũy được sau một năm buôn đi bán lại chè, gặp lúc Công ty Chè Hà Giang giải thể, ông đã dốc túi mua ngay nhà máy chè Cao Bồ của họ.
"Đây quả là một thách thức lớn với tôi, bởi cái giá gần tỷ bạc vào những năm khủng hoảng kinh tế châu Á đó không hề nhỏ đối với một cái nhà máy mà dây chuyền công nghệ là của Trung Quốc, cổ lỗ sĩ từ cái thời quan hệ giữa hai nước còn "môi hở - răng lạnh", ông Hùng giải thích.
Và ông đã vượt qua thách thức đầu tiên.
Cho đến nay, ông Hùng đã sở hữu thêm được 4 nhà máy khác, và 2 tổng kho để chế biến khâu cuối và đóng gói. Cái thì tự đầu tư, cái thì mua của công ty chè nhà nước khác đã giải thể.
Tuy nhiên, nhà máy Cao Bồ đối với ông vẫn có một ý nghĩa đặc biệt: Nó tiếp tục chứng kiến người cựu chiến binh đã ngoại lục tuần này vượt qua một thách thức mới, tạo đột phá khẩu vào một phân khúc thị trường cao hơn - chè hữu cơ.
Chứng chỉ hữu cơ không chỉ cho cây chè
Điều thú vị nhất là thách thức lần này lại đến từ một định chế tài chính có cái tên rất "thách thức" là Quỹ Thách thức Việt Nam (VCF). Những người quản lý quỹ này đã "thách" các doanh nghiệp Việt Nam đưa ra các ý tưởng kinh doanh mới mẻ và táo bạo. Nếu thấy khả thi, họ sẽ chia sẻ một phần những rủi ro, nếu có, ở mức độ cao nhất là 49% số tiền bỏ ra thực hiện.
Ông Hùng đã chấp nhận thách thức này.
"Ước mơ xây dựng Cao Bồ thành một vùng chè hữu cơ, để gia tăng giá trị xuất khẩu, chúng tôi đã ấp ủ từ lâu rồi, nhưng chưa đủ quyết tâm và điều kiện để làm", ông Hùng giải thích.
Đồng nghiệp Đoàn Đạt của báo Sài Gòn Tiếp Thị, người đã tham gia nhóm du khảo văn hóa xuyên Việt hồi 2005, có thể chứng thực điều này cho ông. Đoàn Đạt thuật lại rằng, trong bữa rượu mời, ông Hùng đã say sưa kể về loại chè Shan tuyệt hảo mà Trời ban cho đất Hà Giang (để bù lại việc bị Trời phụ là địa thế quá hiểm trở), theo nghĩa vừa bổ dưỡng vừa sạch (không bị dính phân hóa học và thuốc trừ sâu).
Nhưng để nhận được sự chia sẻ và hỗ trợ đó VCF, Hùng Cường đã phải cạnh tranh với hơn 200 đơn vị khác trên khắp lãnh thổ Việt nam, trước khi ý tưởng chè hữu cơ lọt vào danh sách rút gọn gồm 21 ý tưởng thuyết phục nhất, và được VCF hỗ trợ xây dựng thành đề án. Đề án xây dựng xong lại còn phải chịu sự xét duyệt lần cuối của một nhóm chuyên gia độc lập của VCF, trước khi quỹ này chính thức ý hợp đồng với chủ của 11 đề án lọt vào danh sách cuối cùng.
Sự khắt khe của các nhà tài trợ đâu chỉ dừng ở đó. Phần tài trợ 40% tổng giá trị dự án từ VCF, 215 ngàn USD, cũng chỉ được giải ngân dần dần, qua từng mốc thời gian thực hiện dự án.
"Nghiệm thu xong từng phần việc, thấy đạt yêu cầu họ mới giải ngân. Chúng tôi toàn phải ứng tiền làm trước", ông Hùng nói.
"Một thuận lợi lớn đảm bảo thành công của dự án này là bản thân người dân đã làm chè hữu cơ từ bao đời rồi, chỉ có điều họ không ý thức được thôi. Cái thiếu của họ là quá trình thu hái và chế biến vẫn chưa được coi là sạch", ông Hùng giải thích thêm.
Cảnh hái chè tại Cao Bồ. Ảnh: Đặng Hữu Cự
Những người thực hiện dự án chè hữu cơ Cao Bồ, thông qua công ty Hùng Cường, đã cố gắng bù đắp cái thiếu đó cho người nông dân. Các lớp hướng dẫn qui trình chăm sóc và thu hái chè đúng kỹ thuật đã được tổ chức cho hầu hết các hộ dân. 11 điểm thu mua đã được thiết lập ở những nơi xa nhà máy, ngoài việc giúp người dân trong khâu vận chuyển, đã đảm bảo cho chè hái xong được chuyển đến nhà máy chế biến đủ số lượng và đúng chất lượng.
"Chúng tôi tổ chức cho trưởng thôn làm đại lý thu gom chè tươi, trả hoa hồng cho họ. Họ sẽ được lợi khi tỷ lệ thu mua cao, và họ cũng có trách nhiệm trong việc giám sát bà con hái chè theo đúng kỹ thuật", ông Hùng bật mí.
Kết quả thu được bước đầu khá khả quan. Cả với doanh nghiệp lẫn người nông dân.
Năm 2011, tức là vẫn trong quá trình thực hiện dự án chứ chưa nhận được chứng chỉ chè hữu cơ của IFOAM (Liên đoàn các phong trào sản xuất nông nghiệp hữu cơ quốc tế), giá bán ra trung bình của chè xanh và chè đen Cao Bồ đã tăng từ 2 USD/kg năm 2010 (trước khi dự án triển khai) lên 4 USD/kg. Nhờ đó mà giá thu mua chè tươi của nông dân cũng tăng từ 4 ngàn đồng/kg năm 2010 lên gần 7 ngàn đồng/kg.
Ông Nguyễn Văn Khoa, Phó Giám đốc Công ty Hùng Cường và cũng là người được ông Hùng giao phụ trách trực tiếp dự án, cho biết rằng sau khi được cấp chứng chỉ IFOAM vào tháng 4.2011, công ty đã ký hợp đồng ngay được với một khách hàng từ Đức, với giá 6 USD/kg chè đen và 8 USD/kg chè xanh.
"Tháng 7 này, chúng tôi sẽ xuất lô đầu tiên, khoảng 2 công (container), tổng cộng 80 tấn, chia đều cho cả chè đên lẫn chè xanh", ông Khoa nói.
Cũng nhờ vậy, ở vụ đầu của năm 2012, công ty đã nâng giá mua chè của người dân trong vùng chè hữu cơ Cao Bồ lên 7,5 ngàn/kg đối với loại B (1 tôm ba lá), và hơn 10 ngàn đồng/kg đối với chè loại A (1 tôm 2 lá). Trong khi đó, theo ông Khoa, chè Shan bên ngoài vùng Cao Bồ vẫn được thu mua của người dân với giá 4 ngàn đồng/kg.
"Tôi cứ trăn trở mãi rằng, trong khi nguồn tài nguyên của mình là chất lượng cao, công sức người dân cũng bỏ nhiều, mà sao sản phẩm đầu ra giá trị lại thấp? Chủ yếu là do tranh mua tranh bán thôi. Nhất là với sự tham gia của thương lái nước ngoài.
Chính vì vậy, một trong những mục tiêu của chúng tôi khi quyết tâm thực hiện dự án chè hữu cơ này cũng là tạo mối quan hệ "hữu cơ" giữa người nông dân trồng chè và doanh nghiệp chế biến chè", ông Hùng kết luận.


Niềm tin và nỗi bất an

Mối quan hệ "hữu cơ" giữa người dân Cao Bồ và Công ty Hùng Cường được ông giám đốc Nguyễn Thanh Hùng diễn đạt một cách hết sức đơn giản: "Một gói thuốc lào, hay đôi pin, đối với chúng ta chẳng đáng là bao, nhưng khi chúng tôi tặng vẫn khiến bà con cảm động. Bà con cần nhất sự đối xử chân tình, có trước có sau."

Phóng viên VTV1 Lê Anh Ngọc đã bật cười khi nghe câu này.
"Bác cả tin quá", Ngọc nói với ông Hùng.
Người phóng viên đã từng làm nhiều phóng sự về chè ở Phú Thọ, Tuyên Quang, hay Yên Bái, kể lại rằng anh nghe nhiều vụ "lật kèo" của người bán chè  tươi, khi có thương lái khác trả giá cao hơn.
Tuy không hoài nghi ở mức độ như vậy, người viết bài này vẫn thấy băn khoăn. Để rồi trong suốt và cả sau chuyến đi vẫn cố gắng xác minh tính xác tín trong câu nói của ông Hùng.
Và rất may, cuối cùng Quản đốc nhà máy chè Cao Bồ Nguyễn Anh Dũng, người vẫn hàng ngày phải trực tiếp làm việc với người dân Cao Bồ, đã giải đáp hộ thắc mắc đó, qua một cuộc trò chuyện bằng điện thoại.
Phóng viên VTV1 Lê Anh Ngọc nhìn ông Nguyễn Thanh Hùng đầy "nghi ngờ"
Chinh phục trái tim người Dao
"Người Dao nói chung sống thật. Họ rất sợ người Kinh nhiều mánh khóe. Cho nên muốn họ quý mình trước hết phải thật thà, và phải ăn ở, sinh hoạt cùng với họ, nói chung là phải hòa đồng với họ", Dũng nói.
Dũng kể, từ cuối năm 2010, khi bắt đầu dự án ngày nào anh cũng phải đi xuống các thôn bản, để giải thích cái lợi khi tham gia làm chè hữu cơ cho bà con. Hầu như đêm nào anh cũng ngủ lại ở một thôn bản nào đó.
"Vì ban ngày, bà con đi lên đồi, lên nương, nên chỉ có buổi tối mới nhờ trưởng thôn tập trung bà con lại cho mình vận động, trình bày. Xong việc thì đã khuya rồi, nhiều thôn bản lại xa nhà máy nữa", Dũng giải thích.
Khi bà con đã thông rồi, đến giai đoạn triển khai hướng dẫn kỹ thuật, anh hàng ngày lại phải lên tận nương chè để kiểm tra, giám sát xem họ có thực hiện đúng không.
Dũng bảo nhà anh ở xã Việt Lâm, cách Cao Bồ có khoảng 27 cây số, nhưng mỗi tuần anh chỉ tranh thủ tạt được về nhà được có nửa buổi, rồi lại tất tả phóng xe quay trở lại nhà máy. Cô con gái thứ hai, năm nay mới được ba tuổi, nhiều hôm cứ ôm cứng lấy cổ bố, nước mắt giàn giụa.
"Nhìn cảnh đó, đã mấy lần vợ tôi đã khuyên tôi nên xin chuyển công ty, hay ít nhất là xin quay lại nhà máy chè Việt Lâm, nơi tôi làm quản đốc trước khi được cử sang Cao Bồ. Nhiều khi cũng thấy phân tâm, nhưng rồi nghĩ lại, thấy lãnh đạo công ty họ tín nhiệm mình, giao trọng trách cho mình, bỏ đi sao được", Dũng khẽ thở dài.
Dũng kể rằng Giám đốc Hùng điều anh xuống triển khai dự án mới ở Cao Bồ, chỉ vì anh là người trẻ nhất trong đội ngũ lãnh đạo cấp nhà máy (Dũng sinh năm 1971).
"Ông Hùng hy vọng ở sự năng nổ của tôi, nhưng không biết rằng thời gian làm chè ở Việt Lâm tôi đã có mấy năm kinh nghiệm làm ăn, sinh hoạt với người Dao ở đó. Tôi còn biết nói tiếng Dao trong sinh hoạt hàng ngày nữa", Dũng "bật mí" về một trong những lý do khiến dự án Cao Bồ thành công bước đầu.
Cái kinh nghiệm của Dũng ở Việt Lâm là từ thời nhà máy chè Việt Lâm vẫn thuộc Công ty Chè và Cà phê Việt Lâm, một doanh nghiệp nhà nước, trước khi Hùng Cường mua lại vào năm 2004. Hồi đó, anh hay phải đi thu mua chè Shan của đồng bào Dao ở Quảng Ngần, một xã cũng thuộc huyện Vị Xuyên như Việt Lâm và Cao Bồ. Anh cũng được giao làm quản đốc nhà máy chè Thượng Sơn của Công ty Việt Lâm, cũng chế biến chè Shan của người Dao như nhà máy Cao Bồ, trong khoảng thời gian 2 năm.
"Do phải cạnh tranh thu mua với với những công ty khác, rồi tư thương, nên tôi phải tìm cách chiếm được tình cảm của người Dao, bằng cách tìm hiểu phong tục, tập quán của họ, rồi học tiếng nói của họ", Dũng kể.
Theo Dũng, một trong những điều quan trọng khi bước chân vào nhà sàn của người Dao là phải tháo giày dép, để ở chân cầu thang, và múc nước từ cái chum bên cạnh để rửa sạch chân. Có như vậy, họ mới cho là mình tôn trọng họ.
"Người Kinh mình, nhiều khi được mời ăn món gì, thường hay nhận xét, hoặc kể rằng chỗ chúng tôi người ta nấu thế nọ, thế kia. Nhưng người Dao chỉ quý vị khách nào mà khi đến nhà họ có cái gì thì cứ lẳng lặng ăn nhiệt tình cái đó", Dũng nói thêm.
Cũng nhờ kinh nghiệm với người Dao mà Dũng đã đề xuất với công ty Hùng Cường thuyết phục các trưởng thôn làm đại lý thu mua chè tươi của người dân ở các bản xa. Bởi những trưởng thôn, do dân bầu lên, có tiếng nói rất lớn với họ.
"Trong số 11 trạm thu mua ở các thôn bản xa, thì có tới 8 cái là do 8 trưởng thôn nắm. Vì nhận được tiền công theo sản phẩm là 1,5% trên tổng số tiền thu mua chè, nên họ rất có trách nhiệm trong việc đôn đốc và hướng dẫn người dân thu hái đúng kỹ thuật", Dũng nói.
Chính các trưởng thôn cũng hứa với Dũng là nếu nhà máy Cao Bồ thu mua ít nhất bằng giá thị trường, thì họ đảm bảo sẽ thuyết phục được các hộ bán cho nhà máy. Nhưng nếu có người trả giá cao hơn, họ không dám chắc.
"Bây giờ có chứng chỉ hữu cơ rồi, chè Cao Bồ sản xuất ra bán giá lên gấp đôi, gấp ba, so với trước, giá thu mua cũng tăng lên, tôi tin rằng khó có doanh nghiệp, hay tư thương trong nước nào có thể mua tranh được với chúng tôi. Các máy mini, chuyên làm chè vàng trong các thôn bản, bây giờ đắp chiếu hết rồi", Dũng nói.
Nhưng khi người viết hỏi, nếu thương lái Trung Quốc lại ào vào như hồi cuối 2007, đầu 2008, để chuẩn bị cho nhu cầu bùng nổ nhân sự kiện Olympics Bắc Kinh, như người viết đã được nghe người dân Cao Bồ kể lại, Dũng tự nhiên lặng đi, dễ đến 1-2 phút.
Thế rồi ,anh buồn buồn kể lại chuyện công ty Hùng Cường đã khốn khổ như thế nào trong trận "càn quét" đó. Thương lái Trung Quốc, thông qua các chủ máy mini lên tận trên nương mua chè, và thuê luôn họ sơ chế thành chè vàng - nguyên liệu dùng để làm chè Phổ Nhĩ.
"Giá một cân chè tươi, bất kể là  loại 1 tôm 3 lá, 4 lá hay 5 lá, tự nhiên vọt lên gấp 2-3 lần. Để đảm bảo hợp đồng đã ký, chúng tôi vẫn phải mua một số lượng nhất định với cái giá đó, dù biết sản xuất là lỗ", Dũng than vãn, và lo lắng rằng không biết sắp tới liệu bên Trung Quốc có sự kiện trọng đại nào không.
Ông Nguyễn Thanh Hùng ngỏ lời nhờ nhờ các tổ chức tài chính quốc tế cứu giúp
Nỗi lo thiếu vốn
Quản đốc Dũng đã lo như vậy, ông giám đốc Hùng lại càng lo hơn. Nhưng cái lo của ông lại nằm ở khía cạnh khác.
Ông bảo ông không sợ thương lái Trung Quốc cạnh tranh về giá. Không có chứng chỉ hữu cơ, họ khó mà bán giá cao được, nên chắc sẽ tìm cách thu mua chè ở những vùng khác, ngoài Cao Bồ.
"Hơn nữa, người dân ở đây cũng thấy sợ kiểu làm ăn của người Trung Quốc rồi, khi chỉ rmua ào ào lên dăm ba tháng, rồi tự nhiên không mua nữa. Người dân không biết bán cho ai, hoặc bị ép giá", ông nói.
Anh nông dân Bàn Văn Thỉnh, người đã kể cho người viết về "trận càn" của thương lại Trung Quốc cách đây hơn 4 năm, cũng khẳng định điều này.
"Người Trung Quốc nhiều mưu kế lắm, không chơi được đâu. Chúng tôi chỉ mong công ty Hùng Cường bán được chè hữu cơ giá cao, và từ đó nâng giá thu mua của chúng tôi lên theo thôi", anh Thỉnh nói.
Ông Hùng biết về nguyện vọng của người dân, và nhận thức rằng đó chính là một điểm mấu chốt trong quan hệ "hữu cơ" mà ông đang xây dựng với người dân trồng chè ở Cao Bồ. Nhưng ông sợ điều đó vẫn sẽ nằm ngoài sức với của ông.
"Tôi chỉ sợ khi không có tiền thu mua chè của dân, và thương lái Trung Quốc sẽ vào mua hết, rồi tha hồ ép giá, đời sống họ lại bấp bênh trở lại. Như vậy, hóa ra mình lừa dân à?", ông lắc đầu, ngán ngẩm.
Ông giải thích rằng, muốn cho 5 nhà máy, kể cả ở Cao Bồ, hoạt động đúng công suất, ông cần chừng 30 tỷ vốn lưu động, để mua chè của người dân. Nhưng hiện giờ ông đã thế chấp hết tài sản, từ nhà máy đến khu văn phòng, khách sạn, mà chỉ vay được có 10 tỷ đồng.
"Tôi mới đầu tư dây chuyền trị giá 2 triệu USD mà vẫn chưa dám khởi động, vì còn phải dồn vốn vào dự án chè hữu cơ Cao Bồ. Không thể để cái đà đi lên này bị chững lại giữa chừng. Mất mặt với các nhà tài trợ, các đối tác, và nhất là với người dân, lắm", ông nói.
Ông giải thích rằng trong nhiều năm qua, giá trị tài sản mà ông thế chấp để vay vốn đã tăng lên gấp nhiều lần do đầu tư của ông, cũng như giá thị trường. Thế nhưng, ngân hàng nông nghiệp ở đây vẫn không chịu định giá lại để nâng trần vay cho ông.
"Tôi đã liên hệ thử, qua người quen, với một ngân hàng ở Hà Nội. Qua định giá sơ sơ, họ nói sẵn sàng cho tôi vay khoảng 50 tỷ", ông Hùng tiết lộ.
Nhưng, theo ông, mối quan hệ đã thành thân quen với ngân hàng nông nghiệp xưa nay, và có thể qua đó là cả mối quan hệ với chính quyền địa phương, khiến ông cảm thấy ngần ngại khi nói thẳng điều này với họ. Ông cứ đành hy vọng vào lời hứa sẽ trình cấp trên xem xét việc định giá lại tài sản của họ.
"Câu chuyện bây giờ là của nhà nước, nếu họ cũng thấy đây là một mô hình phát triển sản xuất và xóa đói giảm nghèo hiệu quả, như các tổ chức quốc tế đã nhìn nhận. Đó là còn chưa nói tới tác dụng kép của việc phát triển cây chè, bởi trồng chè là trồng rừng, chống được xói mòn, sụt lở...", ông Hùng bỏ lửng ở đó.
Đoạn, ông nhấp một ngụm trà Phổ Nhĩ, rồi ngước lên nhìn ông cán bộ ADB Đào Việt Dũng khá chăm chú, rồi chậm rãi nói: "Liệu anh có thể liên hệ với tổ chức quốc tế nào đó cho tôi vay tiền được không? Tôi vay bằng đô, bán chè đi rồi trả lại bằng đô."
Người viết tự nhiên có cảm nhận rằng dường như bao nhiêu hy vọng của ông Hùng gửi gắm hết trong ánh mắt đó.