Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2011

ASEAN Mở cửa bước ra khỏi khủng hoảng



ASEAN Mở cửa bước ra khỏi khủng hoảng
Việc ký hiệp định thương mại tự do với Trung Quốc và Ấn Độ được kỳ vọng sẽ giúp ASEAN nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng.
Ngày 14.8 vừa qua, Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thỏa thuận việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do với Trung Quốc và đạt một bước tiến đáng kể với Ấn Độ với mục đích tương tự. Mặc dù vậy, vẫn có những quan ngại xung quanh vấn đề này.

Được và mất

Trung Quốc và 10 nước thuộc ASEAN đã gần như hoàn tất bước cuối cùng của tiến trình đàm phán kéo dài hơn 6 năm khi tại bên lề Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 41 diễn ra tại Bangkok (Thái Lan) vào trung tuần tháng 8, một hiệp định đầu tư đã được ký kết. Theo đó, từ ngày 1.1.2010, khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, bao phủ một khu vực rộng 13 triệu km2 với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lên tới 6.000 tỉ USD, sẽ được triển khai thực hiện. Trước đó, hai hiệp định về thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ đã được ký kết lần lượt vào năm 2005 và 2007.
Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, việc ký kết hiệp định đầu tư này được đánh giá sẽ giúp bù đắp phần nào thiếu hụt vốn đầu tư từ Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo thống kê của Ban thư ký ASEAN, khi thế giới bước vào khủng hoảng, cam kết đầu tư từ Mỹ vào ASEAN đã giảm hơn một nửa từ 6,346 tỉ USD năm 2007 xuống còn 3,169 tỉ USD năm 2008. Các con số tương tự với EU là 18,384 và 14,932, với Nhật là 8,382 và 7,601 và với Hàn Quốc là 3,125 và 1,278. Trong khi đó, dòng vốn từ Trung Quốc đổ vào ASEAN đã tăng từ 1,227 tỉ USD năm 2007 lên 1,438 tỉ USD năm 2008.
Ông Surin Pitsuwan Tổng thư ký ASEAN thậm chí còn hy vọng rằng mối quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn, thông qua việc thành lập khu vực thương mại tự do, sẽ giúp khu vực này dần bước ra khỏi khủng hoảng. Niềm tin của ông Pitsuwan, còn dựa trên cơ sở thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và khối này tăng nhanh và bền vững trong những năm qua.
Theo thống kê của Ban thư ký ASEAN, xuất khẩu của ASEAN vào Trung Quốc năm 2008 tăng 5,5 tỉ USD so với năm 2007 (80 tỉ USD), đủ bù đắp cho sự sụt giảm trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Theo Bộ trưởng Thương mại Thái Lan Porntiva Nakasai, xuất khẩu của ASEAN vào Trung Quốc ước đạt 85,6 tỉ USD trong 9 tháng đầu năm 2009, đưa nước này trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ tư của ASEAN.
Tuy nhiên, không phải thành viên nào của ASEAN cũng lạc quan như ông Pitsuwan. Trước khi hiệp định này được ký kết, các nhà sản xuất Indonesia đã lên tiếng yêu cầu hoãn việc thực hiện bước cắt giảm thuế cuối cùng theo lộ trình của hiệp định thương mại hàng hóa. Họ lo ngại rằng với mức thuế suất đánh vào các hàng dệt, giày dép và điện tử sẽ giảm xuống mức 0% vào đầu năm tới, khiến những mặt hàng giá rẻ này của Trung Quốc tràn ngập thị trường nội địa. “Vì lợi ích quốc gia, chúng tôi yêu cầu Chính phủ vận động các thành viên còn lại của ASEAN trì hoãn lộ trình giảm thuế suất đối với ngành chế tạo”, Soetrisno, người phụ trách thương mại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Indonesia, phát biểu trước báo giới nước này.
Riêng về thương mại hàng hóa, không tính dầu khí, nhập siêu của Indonesia với Trung Quốc năm 2008 là 7,16 tỉ USD, so với xuất siêu 79 triệu USD năm 2004 (xuất khẩu dầu khí đã giúp kéo thâm hụt thương mại nói chung của Indonesia năm 2008 xuống mức 3,61 tỉ USD). Về vấn đề này, Trưởng đoàn Đàm phán cấp chính phủ - Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú nói: “Việc thành lập một khu vực thương mại tự do ASEAN với một nước khác không chỉ là kết quả của một quá trình mặc cả gay go giữa ASEAN với nước đó, mà còn là sự thuyết phục, nhượng bộ lẫn nhau giữa các thành viên trong khối. Các thành viên trong một tập thể phải xác định rằng, mình phải hy sinh lợi ích này để đạt được lợi ích khác.”
Việt Nam cùng với Lào, Campuchia và Myanmar, với tư cách là những nước gia nhập ASEAN sau, chưa phải giảm thuế ngay theo lộ trình như 6 nước còn lại và Trung Quốc (lộ trình hoàn tất nghĩa vụ này chậm hơn 5 năm). Tuy vậy, giống như Indonesia, càng quan hệ thương mại sâu với Trung Quốc, mức nhập siêu của Việt Nam càng tăng (13 tỉ USD năm 2008) và Việt Nam cũng nhờ vào xuất khẩu nguyên, nhiên liệu thô để giữ mức nhập siêu không cao hơn.
Ông Tú cho rằng, đó không phải lỗi của các nhà đàm phán, bởi hội nhập kinh tế là xu hướng chung của thế giới. Và việc Việt Nam không tận dụng được cơ hội mở cửa thị trường của Trung Quốc, cũng như bị lấn át bởi hàng tiêu dùng giá rẻ của Trung Quốc, là lỗi nội tại của nền kinh tế Việt Nam, trong đó có doanh nghiệp. “Đa phần hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc là máy móc, thiết bị và nguyên phụ liệu, mà trong nước chưa sản xuất được. Tỉ lệ hàng tiêu dùng trong nhập siêu chỉ chiếm khoảng 7-8%”, ông nói.

Khởi đầu của một tiến trình

Cũng bên lề Hội nghị nói trên, ASEAN đã đi bước đầu tiên trong việc thành lập một khu vực tự do thương mại khác khi ký hiệp định thương mại hàng hóa với Ấn Độ. Với lộ trình cắt giảm thuế theo hiệp định này, 71% trong tổng số 5.000 dòng thuế sẽ được cắt giảm dần xuống 0% trong vòng 3 năm kể từ đầu năm tới. Đồng thời, đối với 9% số dòng thuế cho các mặt hàng nhạy cảm hơn, lộ trình cắt giảm được tiến hành cho 3 năm tiếp theo. Ấn Độ cũng chấp nhận độ giãn tương tự 5 năm như Trung Quốc cho 4 nước gia nhập ASEAN sau (Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar). Riêng với Philippines, thời gian hoàn tất lộ trình này cũng giống như với 4 nước trên, nhưng Ấn Độ không cần phải mở cửa thị trường trước.
Nguyên Bộ trưởng Thương Mại Trương Đình Tuyển từng phát biểu rằng, thực chất hiệp định thương mại hàng hóa giữa Ấn Độ và ASEAN sở dĩ ít được quan tâm là bởi thế mạnh nổi bật của cả hai bên là sản phẩm nông nghiệp, nên khó có khả năng bổ sung cho nhau. “Vì thế, quá trình đàm phán mới kéo dài tới 6 năm”, bà Nguyễn Thị Bích, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, cho biết. Tuy nhiên, riêng với Việt Nam, bà Bích cho rằng, các nhà sản xuất trong nước cũng được hưởng lợi từ nguồn nhập khẩu hóa chất và đặc biệt là thức ăn gia súc với giá cạnh tranh hơn so với Trung Quốc. “Ấn Độ sản xuất nhiều đậu tương với giá rẻ và các nhà chăn nuôi Việt Nam có thể vui mừng vì điều này”, bà Bích nhận xét.
Bà Rebecca, Trưởng đoàn đàm phán của Ấn Độ, cho biết, cả hai bên sẽ nhanh chóng thúc đẩy tiến trình đàm phán để ký kết hai thỏa thuận cần thiết còn lại là các hiệp định thương mại dịch vụ và đầu tư trong vòng một năm. Tuy nhiên, Bộ trưởng Thương mại Thái Lan Porntiva Nakasai đã tỏ ra khá dè dặt khi cho rằng vấn đề thương mại dịch vụ sẽ phức tạp hơn nhiều.
Bà Phan Hoài An, Phó trưởng phòng ASEAN, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ tài chính, cũng cho rằng, dịch vụ là thế mạnh của Ấn Độ, nhất là công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm, điện ảnh và đó là lý do Ấn Độ hào hứng với hiệp định thương mại dịch vụ hơn là thương mại hàng hóa. Theo bà An, đó cũng là lý do tại sao hai bên chỉ xác định đặt mục tiêu tăng giá trị tổng kim ngạch trao đổi hàng hóa hai chiều trung bình hơn 2 tỉ USD mỗi năm trong vòng 6 năm kể từ khi quá trình cắt giảm thuế bắt đầu. 

Doanh nghiệp nói, ai nghe?


Tạp chí Nhịp Cầu Đầu Tư - Tạp chí Kinh doanh Uy tín hàng đầu, số: Sáng - tối thị trường bảo hiểm, ra ngày 19-04-2010
Doanh nghiệp nói, ai nghe?
Tác giả: Lưu Hương    NCĐT 19/04/2010
Để tiếng nói của doanh nghiệp được lắng nghe tại các cuộc họp ASEAN, các hiệp hội nên được chọn là người đại diện, chứ không phải những tập đoàn lớn của Nhà nước.
Trong cuộc họp của Hội đồng Kinh tế ASEAN, diễn ra trước thềm Hội nghị Cấp cao ASEAN 16 tại Hà Nội, khi bàn về các biện pháp thúc đẩy sự liên kết kinh tế trong khối, có một kết luận quan trọng được rút ra. Đó là thúc đẩy hơn nữa đối thoại giữa Chính phủ và doanh nghiệp để những cam kết liên kết về kinh tế trong khối này trở nên khả thi hơn. NCĐT đã trao đổi về vấn đề này với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người đã có nhiều năm theo dõi tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam.
Bà đánh giá gì về kết luận trên, nhất là đối với trường hợp của Việt Nam?
Lẽ ra, điều đó phải được đưa ra từ lâu rồi. Chẳng hạn, quá trình đàm phán thương mại của Việt Nam với Trung Quốc, trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc, hầu như giới doanh nghiệp không được mời tham vấn là nên mở cửa đến đâu và với những sản phẩm nào. Các cơ quan xem đó là công việc riêng của mình. Thậm chí, khi đã cam kết rồi lại coi đó là tài liệu mật. Tôi còn nhớ mãi chuyện Việt Nam và Mỹ hoàn tất hiệp định thương mại song phương. Trong khi Mỹ đã công bố hết những cam kết lên mạng thì ở Việt Nam, các văn bản của các bộ liên quan vẫn còn đóng dấu mật.
Nếu có được mời tham vấn thì Chính phủ chỉ mời các doanh nghiệp lớn của Nhà nước. Trong nhiều trường hợp, lợi ích của họ không phản ánh lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp nói chung.
Tức quy trình của Việt Nam vẫn là từ trên xuống?
Đúng vậy. Chưa nói đến chuyện quan hệ giữa Chính phủ và doanh nghiệp, ngay giữa các cơ quan liên quan, sự phối hợp với nhau cũng rất yếu, ngành nào biết việc ngành đó. Chẳng hạn, thương mại nông sản thì liên quan đến cả Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Tuy nhiên, hai cơ quan này phối hợp không ăn ý, khiến cho hàng nông sản Việt Nam chưa bao giờ đạt được giá trị xuất khẩu cao nhất.
Hoặc hệ thống thuế quan vẫn thể hiện tư tưởng là tận thu cho ngân sách, thay vì có cả chức năng hỗ trợ phát triển. Ở đây, có sự mâu thuẫn giữa mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, liên quan đến cải tiến công nghệ để gia tăng sức cạnh tranh về lâu dài. Xi-măng là ví dụ rõ nhất. Trong một thời gian dài, Việt Nam đã duy trì mức thuế cao, để ngành xây dựng, giao thông phải chịu giá xi-măng trong nước rất cao, thay vì có thể mua xi-măng Thái Lan với giá cạnh tranh. Đó là chưa kể đến vấn đề chất lượng. Các địa phương coi như đã được bật đèn xanh để nhập công nghệ sản xuất xi-măng lạc hậu (công nghệ lò đứng) do Trung Quốc thải ra. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng vì thế mà chỉ lao vào những ngành được Nhà nước bảo hộ như ôtô.
Sau nhiều năm kiến nghị, Hội đồng Doanh nghiệp ASEAN, kể từ năm 2007, đã được phép đối thoại với lãnh đạo trước mỗi Hội nghị Cấp cao ASEAN hay Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN. Đại diện Việt Nam trong hội đồng này là một lãnh đạo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đại diện của Ngân hàng Đông Nam Á và Ngân hàng BIDV. Theo bà, họ có đại diện một cách đầy đủ cho lợi ích của doanh nghiệp?
Kể từ lần đầu tiên được mời tham dự cuộc họp của Liên đoàn Các phòng Thương mại và Công nghiệp ASEAN vào năm 1994, tôi nhận thấy, ngoài đại diện của phòng thương mại và công nghiệp các nước, luôn có sự hiện diện của đại diện hiệp hội công nghiệp, đại diện cho các nhà sản xuất.
Ở Việt Nam, tuy VCCI đại diện cho cả các hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp, nhưng tiếng nói lớn nhất chỉ đến từ các tổng công ty lớn của Nhà nước. Vì vậy, nhiều khi kiến nghị của họ mang lợi ích cục bộ nhiều hơn là lợi ích chung của cộng đồng doanh nghiệp. Đáng mừng là xu hướng này đang giảm dần, do các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ngày càng mạnh dạn phản ứng lại.
Hơn nữa, không như phòng thương mại và công nghiệp ở nhiều nước ASEAN, VCCI là một tổ chức bán chính phủ, nên vai trò đối thoại và phản biện những chính sách của Chính phủ có lẽ vẫn chưa thật quyết liệt. Vì vậy, theo tôi, các hiệp hội ngành nghề mới thực sự là đại diện của doanh nghiệp.
Không như nhiều nước ASEAN khác, các hiệp hội ở Việt Nam được thành lập theo kiểu hành chính, nhiều khi chỉ là danh nghĩa. Lãnh đạo nhiều hiệp hội lại là những quan chức đã về hưu. Như vậy, liệu họ có dám nói lên tiếng nói của doanh nghiệp, nhất là khi quyền lợi của doanh nghiệp mâu thuẫn với lợi ích của Chính phủ?
Nếu nói nhiều hiệp hội doanh nghiệp là cánh tay nối dài của Nhà nước cũng chẳng oan gì. Tình trạng hành chính hóa hoạt động của các hiệp hội này quá nặng nề. Đó là chưa kể đến việc nhiều hiệp hội do các doanh nghiệp lớn, đa phần là quốc doanh, cầm trịch. Tiếng nói lợi ích của họ át đi tiếng nói lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việc các quan chức về hưu được bổ nhiệm làm chủ tịch các hiệp hội, ít hay nhiều, cũng mang phong cách hành chính của họ vào hiệp hội. Rồi do mối quan hệ quen biết với những người đương nhiệm, nên nhiều khi họ khó ăn khó nói.
Theo tôi, ngoài việc chấn chỉnh lại quy chế của các hiệp hội theo đúng chức năng, Việt Nam cũng nên học hỏi các nước phát triển hơn trong ASEAN. Theo quan sát của tôi từ nhiều năm qua, trước khi họ đến họp ASEAN, những vấn đề của doanh nghiệp đã được đưa ra bàn thảo trước với chính phủ nước họ. Họ đến với ASEAN chỉ là để góp thêm tiếng nói cho những ý tưởng, chính sách đã được thống nhất giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp.
Một trong 4 mục tiêu của năm Việt Nam làm chủ tịch ASEAN là tăng cường kết nối ASEAN về kinh tế. Bà có nghĩ rằng điều này là hơi khó, khi ngay tại Việt Nam, việc phối hợp giữa doanh nghiệp với Chính phủ và giữa các cơ quan với nhau lại có vấn đề?
Đúng vậy. Sự liên kết đầu tiên phải xuất phát từ lợi ích của đất nước mình, sau đó mới vì sự liên kết trong hội nhập. Ý thức được việc này, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ủy ban Quốc gia về Hội nhập Kinh tế Quốc tế. Có điều, vai trò của cơ quan liên ngành này lại không như mong muốn vì những vị trí chủ chốt hầu như đều được kiêm nhiệm.

Xây dựng khu kinh tế mở: Lệch lạc cách làm



Tạp chí Nhịp Cầu Đầu Tư - Tạp chí Kinh doanh Uy tín hàng đầu, số: Học Trung Quốc quy hoạch đô thị, ra ngày 06-09-2010
Xây dựng khu kinh tế mở: Lệch lạc cách làm
Tác giả: Lưu Hương    NCĐT 06/09/2010
Sau 6 năm xây dựng Chu Lai, khu kinh tế mở đầu tiên ở Việt Nam, kết quả thu hút đầu tư hầu như vẫn giẫm chân tại chỗ.
Trong hội thảo “Việt Nam trong thập kỷ tới và sau đó”, tổ chức tại Hà Nội cách đây hơn nửa tháng, một số chuyên gia trong và ngoài nước khẳng định rằng, để tạo ra đột phá trong 10 năm tới, Việt Nam cần có sự đột phá về thể chế thông qua việc phát triển các khu kinh tế tự do. “Đó cũng là sự chuẩn bị cần thiết về thể chế cho giai đoạn sau năm 2020 để Việt Nam có thể tránh mắc vào bẫy thu nhập trung bình”, ông Homi Kharas, chuyên gia kinh tế cao cấp của Viện Nghiên cứu Brookings (Mỹ), nhận định.
Tuy nhiên, kết quả hoạt động của khu kinh tế mở (KTM) đầu tiên của Việt Nam Chu Lai sau 6 năm thành lập cho thấy một kết quả không mấy khả quan. Tổng vốn đầu tư cam kết đến nay đạt 1,4 tỉ USD, bằng đúng con số mà Ban Quản lý khu này đưa ra trong lễ kỷ niệm 2 năm thành lập (2005). Và nhà đầu tư lớn nhất tại Chu Lai lại là một doanh nghiệp trong nước: Công ty Ôtô Trường Hải.
Giải thích lý do Khu Kinh tế mở Chu Lai thất bại trong việc thu hút các nhà đầu tư lớn từ nước ngoài, Tiến sĩ Võ Đại Lược, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, cho rằng, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đã có sự nhầm lẫn về khái niệm của các khu kinh tế. “Bản chất kinh tế mở là tự do về thể chế chứ không phải cơ chế. Thực chất Chu Lai vẫn là một khu công nghiệp, với ưu đãi ngang bằng với vùng khó khăn nhất và độ mở cửa ngang với khu cửa khẩu Lao Bảo. Tức là chẳng có gì đặc biệt cả”, ông Lược, Chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu cấp quốc gia về phát triển khu kinh tế tự do, nhận xét.
Đột phá về thể chế để phát triển
Theo Tiến sĩ Lược, mục đích thành lập ra các khu kinh tế tự do ở các nước trên thế giới, bất kể là ở những nước phát triển như Mỹ, các thành viên Liên minh châu Âu, Hàn Quốc, hay đang phát triển như Trung Quốc và Malaysia, là tạo ra những đột phá về thể chế. Bởi vì, rất khó có thể tiến hành cải cách thể chế một cách đồng loạt trên bình diện quốc gia. Nhật là một trường hợp hiếm hoi đã cải cách thể chế trên cả nước thành công vào thời Minh Trị, đưa Nhật tiến thẳng từ một nền kinh tế nông nghiệp vào hàng ngũ các nước phát triển.
Nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc đã từng đến Thâm Quyến (Quảng Đông) và nói với những người thành lập đặc khu kinh tế này rằng, Chính phủ Trung ương không thể cho họ tiền, mà chỉ cho thể chế thôi. “Các anh phải từ thể chế đó mà tìm ra tiền”, ông đã phát biểu.
Thể chế hiện đại và quốc tế là yếu tố quyết định thu hút đầu tư. Kế đến mới là các tiêu chí khác như vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và sự liên kết trong một tuyến tăng trưởng. “Họ đã áp dụng ở Thâm Quyến mô hình tự chủ của Hồng Kông, và thể chế này sau đó đã được áp dụng cho các đặc khu kinh tế ven biển khác của Trung Quốc. Kết quả là 80% đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc đã được tập trung ở vùng ven biển”, ông Lược dẫn chứng.
Thể chế của các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc là thể chế phát sinh từ mô hình thể chế của Hồng Kông, với quyền tự chủ thể hiện qua những tư tưởng chung là “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”, "phê duyệt ít, dịch vụ nhiều”, “hiệu quả cao, pháp chế hoá” và “tinh giản thống nhất và hiệu quả”.
Chính phủ Trung Quốc cho phép các đặc khu kinh tế có thể chế ưu tiên khác với thể chế trong nước, theo mô hình hướng ngoại, tới mức “một quốc gia trong một quốc gia”, để có thể thu hút được vốn, kỹ thuật, phương pháp quản lý của nước ngoài.
“Chẳng hạn, về tư tưởng “nhà nước nhỏ, xã hội lớn”, nếu như ở các tỉnh thành ở Trung Quốc có tới 65 cơ quan đầu mối quản lý thì ở những đặc khu kinh tế như Thâm Quyến, các cơ quan hành chính cấp đặc khu chỉ còn 4 đơn vị. Đó là các cục phát triển kinh tế, phát triển thương mại, vận tải và nông nghiệp”, ông Lược đưa ra ví dụ.
Phải lắng nghe nhà đầu tư nước ngoài
Trong khi đó, ở Việt Nam, mặc dù Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã hoạch định ra 15 khu kinh tế suốt dọc chiều dài của đất nước nhưng không có một khu nào có thể chế đúng với tiêu chuẩn của một khu kinh tế tự do, tức là có quy chế tự quản và quốc tế hóa cao. “Việt Nam cần tiến tới cấp quản lý hành chính riêng cho các khu kinh tế. Chứ một khu kinh tế mở như Chu Lai không thể đặt dưới sự quản lý hành chính của một tỉnh thuộc loại nghèo nhất Việt Nam. Điều này dẫn đến việc trình độ quản lý khó mà hiện đại được”, ông Lược nhận xét.
Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng, trong giai đoạn đầu xây dựng các khu kinh tế tự do ở Việt Nam, các khu này có thể vẫn trực thuộc một tỉnh, hay thành phố. Và những tỉnh hay thành phố này cần được hưởng cơ chế tỉnh hoặc thành phố mở. Theo cách làm của Trung Quốc, những khu kinh tế mở được hưởng những ưu đãi về thuế, một số ưu đãi về thể chế hành chính và kinh tế, về đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy ưu đãi này thấp hơn các đặc khu kinh tế, nhưng cao hơn so với cả nước. “Những tỉnh, thành phố mở (mở cửa) có thể là Quảng Ninh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, hay TP.HCM”, ông Lược gợi ý dựa trên những điều tra về nguyện vọng của các nhà đầu tư nước ngoài.
Nguyện vọng của các nhà đầu tư nước ngoài là một điểm mà ông Lược cho rằng cần hết sức lưu ý trong việc chọn lựa địa điểm xây dựng các khu kinh tế tự do. Theo ông, đặc điểm của các nhà đầu tư nước ngoài là tận dụng được lợi thế so sánh và cạnh tranh. Theo đó, họ sẽ chọn những nơi nào có tiềm năng lớn mà chưa được khai thác. Bên cạnh đó, họ sẽ đóng góp thêm một số ý tưởng, một ít tiền và xin thêm những cải cách về thể chế. Khi đó, tiềm năng lợi thế sẽ trở thành tài nguyên lợi thế.
Ông Lược cho biết, khi tiếp xúc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, ông được biết rằng ở khu kinh tế Vân Đồn, ngoài ông trưởng ban quản lý lo giữ đất, chẳng có nhà đầu tư nước ngoài nào ngó ngàng đến nơi này cả. “Họ đến đây để kiếm tiền, chứ không phải làm từ thiện, giúp Việt Nam phát triển các vùng nghèo khó”, ông Lược nhận xét.

Thay cái bình đã hết đát


 Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Thay cái bình đã hết đát (15/09/2010)
 
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Từ 01/07/2010, hơn 1.000 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên để họat động theo luật Doanh nghiệp chung. Liệu việc chuyển đổi này có khiến cho môi trường kinh doanh của Việt Nam trở nên bình đẳng hơn, và giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, để Việt Nam thực sự có một nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa, cũng như sớm được các đối tác trong WTO công nhận? ĐTNN đã trao đổi với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan xung quanh các nội dung này.
ĐTNN: Xin bà cho biết việc giữ quá nhiều doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có ảnh hưởng gì tới việc các đối tác trong WTO sớm công nhận Việt Nam có qui chế kinh tế thị trường, như mong muốn của Việt Nam, hay không?
Bà Phạm Chi Lan: Thực ra Mỹ, hay Liên minh châu Âu, không đưa ra yêu cầu là bắt Việt Nam phải cắt giảm DNNN. Họ chỉ yêu cầu các DNNN đó phải hoạt động như các doanh nghiệp khác trên một sân chơi bình đẳng.
Điều đó có nghĩa là những ưu đãi phải bị cắt bỏ đi. Nhà nước không được cấp tín dụng đặc biệt, cho thuê đất với giá đặc biệt (thực ra là giao đất), không được trao quyền kinh doanh riêng cho những doanh nghiệp này, như xưa nay vẫn làm. Hoặc, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cũng không có đặc quyền tiếp cận các dự án của Nhà nước mà các doanh nghiệp tư nhân không được tham gia. 
Thứ hai, mua sắm của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước không được coi là mua sắm nhà nước, tức là không được dùng vốn ngân sách. Chẳng hạn, việc Quốc hội vẫn thông qua đề nghị của Chính phủ cho Petro Vietnam giữ lại 40% doanh số để tái đầu tư là không được nữa, vì điều đó vi phạm nguyên tắc thị trường. 
Theo tôi được biết qua trao đổi với các chuyên gia nước ngoài, WTO và các đối tác khác sẽ tiếp tục giám sát chặt chẽ, và sẽ có những đòi hỏi mạnh mẽ để Việt Nam phải thực hiện theo đúng những tiêu chí của WTO, mới quyết định có công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường hay không.
Nói tóm lại, Việt Nam ngay từ bây giờ phải có kế hoạch và lộ trình cổ phần hóa các công ty TNHH một thành viên (nhà nước) này, sau khi đã buộc phải làm cái chuyện bất đắc dĩ là “đổ rượu cũ qua bình mới” vì bình cũ (luật Doanh nghiệp nhà nước) đã hết đát.
Theo bà, việc chậm trễ cổ phần hóa các DNNN có tác động gì đến câu chuyện tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam nói chung, khi nền kinh tế phải mở cửa để hội nhập? Bởi, họ hầu như chiếm hết những ngành then chốt, và được hưởng đầy đủ những ưu đãi, từ đó có thể chèn ép sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân?
Việc dành ưu đãi, đặc biệt là quyền kinh doanh cho DNNN sẽ để lại một hậu quả lớn, là một số ngành then chốt, khi phải mở cửa ra bên ngoài rộng hơn theo lộ trình cam kết WTO, có thể sẽ rơi vào tay nước ngoài vì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước yếu. Chẳng hạn về hạ tầng, với một nhu cầu quá lớn như thế này, làm sao Nhà nước một mình tiếp tục đầu tư được nữa, mà doanh nghiệp nước ngoài lại cạnh tranh tốt hơn DNNN. Tôi e rằng đến một lúc nào đó giật mình tỉnh lại, sẽ thấy các ngành thiết yếu rơi hết vào các đại gia bên ngoài, và trong nền kinh tế sẽ nảy sinh nguy cơ mới là sự mất tự chủ ở mức độ nhất định.
Còn đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, sẽ xảy ra hai câu chuyện. Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị DNNN chèn ép khó ngóc đầu lên, và không thể đóng góp có hiệu quả cho nền kinh tế, trong đó có việc tăng cường tính tự chủ, như được kỳ vọng. Thứ hai, xu hướng này lái một số doanh nghiệp tư nhân chạy theo, bắt chước các DNNN. Tức là họ không tiếp tục kinh doanh bằng năng lực thực sự, có khi đã thành danh của mình, mà cũng đi vận động hành lang, đi bằng con đường của chủ nghĩa thân hữu, và dần biến nền kinh tế này phát triển dựa trên quan hệ thân hữu.
Câu chuyện về cái tập đoàn tư nhân chuyên về xây dựng khu công nghiệp là một dẫn chứng tốt, khi họ nhờ mỗi quan hệ nọ quan hệ kia đầu tư vào bất động sản, và phất lên từ đó. Hay cái tập đoàn mà ở Hà Nội, TP. HCM, hay bất cứ đâu có mảnh đất vàng để làm văn phòng, siêu thị cho thuê… là có mặt họ, cũng là câu chuyện thành công trên quan hệ với những người có quyền chức cả.
Lúc đầu họ có thể có năng lực thật, có ước mơ hoài bão thật, nhưng rồi thấy con đường đó vất vả quá, trong khi con đường của các đàn anh DNNN lớn ngon lành bao nhiêu. Thứ hai, họ đã nhận thấy rằng sự ưu ái trên cơ sở có đi có lại không nhất thiết phải bó gọn trong khu vực DNNN nữa, nên tận dụng thời cơ luôn.
Nguy hiểm hơn nữa, điều này không chỉ xảy ra với tư nhân trong nước, mà cả tư nhân nước ngoài, và một số nhà đầu tư nước ngoài đã thắng ở Việt Nam bằng con đường thân hữu. Họ khống chế được chính sách thuế, cũng như một số qui định pháp lý khác. Công nghiệp ô tô là một ngành điển hình, hay công nghiệp thép cũng tương đối rõ.
Bà có thấy sự liên quan gì giữa sự lần lữa trong tiến trình cổ phần hóa tới  nguy cơ phá sản của đề án tái cấu trúc nền kinh tế? Bởi cốt lõi của đề án tái cơ cấu là phân bổ lại nguồn lực cho hiệu quả hơn, trong khi việc chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên (nhà nước) được nhận xét là cơ bản không thể hiện sự thay đổi tư duy về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước?
Ban đầu Nhà nước có vẻ rất hào hứng với tái cấu trúc nền kinh tế. Khi khủng hoảng xảy ra, các vị lãnh đạo đều thúc giục các ngành phải làm đề án tái cấu trúc ngành mình, đồng thời giao bộ Kế hoạch và đầu tư lập một đề án chung, tìm kiếm thúc đẩy các hướng đi. Thậm chí, họ đã từng tuyên bố rằng Việt Nam phải đi theo mô hình tăng trưởng khác, bởi mô hình tăng trưởng cũ là bất ổn…
Nhưng khi đề án chung hoàn thành và trình lên lãnh đạo Chính phủ, thì sự tiếp nhận dường như rất hờ hững. Trong kế hoạch 5 năm tới, không thấy bóng dáng của tái cấu trúc nữa. Ngay cả ngôn từ cũng có sự thay đổi. Các anh ở viện Quản lý kinh tế Trung ương có nói với tôi rằng họ được giải thích từ bên trên rằng nói tái cấu trúc tức là cấu trúc hiện nay hóa ra lại sai à. Tức là, theo quan điểm của họ, với tư duy “sai đâu sửa đó”, lâu nay Việt Nam liên tục có sự chuyển đổi cơ cấu.
Theo quan điểm của giới chuyên gia chúng tôi, cái cao nhất của tái cấu trúc không phải là bớt làm nông nghiệp đi, tăng công nghiệp – dịch vụ thêm, mà thay đổi cách phân bổ sử dụng nguồn lực, nhất là thay đổi mô hình tăng trưởng chỉ tính theo tốc độ mà không tính theo hiệu quả. Vì vậy, yêu cầu cao nhất của tái cấu trúc là lấy hiệu quả làm thước đo chính, từ đó kéo theo sự phân bổ lại nguồn lực để phục vụ cho cái hiệu quả đó.
Từ đó phải xem lại các ngành, qui hoạch các vùng, và xem lại vai trò nhà nước đến đâu, vai trò doanh nghiệp tới đâu. Trong đó, ở khu vực doanh nghiệp ai là người chơi thực sự và mang lại hiệu quả cao hơn. Hay, những ngành làm ăn không hiệu quả buộc phải dẹp đi, hoặc thu gọn lại, tạo ra những ngành mới…
Tuy nhiên, ngay cả với nội dung đã được viết lại rất ngắn và sơ lược so với bản thảo ban đầu, đề án này đã được chỉ đạo đưa sang bộ phận soạn thảo chiến lược như một tài liệu tham khảo, chứ không còn vai trò độc lập như ban đầu.

Huỳnh Phan (thực hiện)

Tầm nhìn tham vọng, chính sách khiêm tốn


 Mục tiêu công nghiệp hóa vào 2020: Tầm nhìn tham vọng, chính sách khiêm tốn (Phỏng vấn GS Kennichi Ohno) (05/04/2009)
 
GS. Kennichi Ohno
 Những năm gần đây, có hai chuyên gia tư vấn nước ngoài làm việc tại Việt Nam được nhiều người biết đến. Đó là giáo sư (GS) David Dapice, đến từ Mỹ, cùng nhóm Harvard của ông, và GS Kennichi Ohno, đến từ Nhật, với Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF). Nhìn vào cách làm của họ có thể nhận xét rằng: Nhóm của giáo sư David Dapice chọn cách tư vấn từ chính quyền địa phương, những nơi lãnh đạo ở đó có mong muốn thay đổi, để đạt những kết quả cụ thể, trước khi hướng sự chú ý lên cấp cao hơn. Trong khi đó, GS Kennichi Ohno cùng các cộng sự của mình ngay từ đầu đã cố gắng đưa tư vấn thẳng vào cấp lãnh đạo ở cấp cao trong việc hình thành chiến lược công nghiệp, và xây dựng một mối quan hệ đối tác chiến lược trong công nghiệp, chủ yếu là các ngành công nghiệp lắp ráp.
Theo thừa nhận của chính GS Kennichi Ohno, đồng nghiệp người Mỹ của ông dường như đã đi đúng hướng khi mà vào đầu năm 2008, các thành viên Chính phủ trong quá trình tìm kiếm giải pháp chống lạm phát đã trực tiếp lắng nghe những phân tích, và có lẽ, phần nào đó tiếp thu những khuyến nghị của nhóm này.
Tuy nhiên, với việc hai nước Việt nam, Nhật Bản chính thức ký Hiệp định Đối tác kinh tế (EPA) với phần phụ lục là triển khai một số đề án, trong đó có việc phát triển công nghiệp phụ trợ, sự kiên nhẫn sau gần hai thập kỷ ở Việt Nam của GS Kennichi Ohno có vẻ như đã được đền đáp.
Tạp chí ĐTNN đã có cuộc trao đổi với ông xung quanh đề án này.

ĐTNN: Thưa giáo sư, hẳn ông đã thấy hài lòng khi EPA đã được ký kết?
GS Kennichi Ohno: Có thể nói như vậy nếu xét những gì chúng ta đã đạt được cho đến bây giờ, đặc biệt là trong năm 2008. Hai bên đạt được thỏa thuận này, chúng ta cũng phải kể đến vai trò của Đại sứ Sakaba, người đặc biệt quan tâm đến công nghiệp phụ trợ.
 
 Trước khi sang Việt Nam đầu năm ngoái, ông ấy có đến gặp tôi. Tôi có đưa cho ông xem một số tài liệu của VDF về công nghiệp phụ trợ, và nói rằng nó trở nên rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Sau đó, chỉ trong vòng 6 tháng, đã có gần chục cuộc gặp nội bộ tài nhà riêng Đại sứ Nhật tại Việt Nam, với sự tham gia của các chuyên gia Nhật, và thỉnh thoảng có sự góp mặt của các chuyên gia, hay quan chức Việt Nam. Hai vị Phó thủ tướng Chính phủ là ông Hoàng Trung Hải và ông Nguyễn Thiện Nhân, cũng như Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đều có sự quan tâm khá đặc biệt. Đề án phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đã được thúc đẩy từ phía Việt Nam sau những cuộc gặp này.      
 
Nhưng đó mới chỉ là thỏa thuận nguyên tắc bước đầu. Con đường đi còn rất dài phía trước, một khi Việt Nam vẫn chưa xác định rõ sẽ phát triển những ngành công nghiệp ưu tiên như thế nào. Có quá nhiều ngành công nghiệp được tuyên bố là ưu tiên phát triển, tức là chẳng có ngành nào được đặc biệt ưu tiên.
 
Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam hiện nay vẫn dậm chân tại chỗ sau nhiều năm. Ông có nghĩ rằng Đề án phát triển công nghiệp phụ trợ nói trên sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam? Hay Việt Nam có nên xem lại kế hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô của mình?
   
Một câu hỏi rất hay. Các nhà sản xuất ô tô như Honda, Toyota, hay Ford đang rất lo ngại bởi lộ trình giảm thuế của AFTA/ASEAN. Họ không chắc là đến năm 2018, ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam có thể đủ lớn để cạnh tranh được với xe giá rẻ từ Thái Lan, hay Indonesia tràn vào. Trong bối cảnh hạ tầng giao thông kém phát triển như hiện nay, rồi những qui định về hạn chế ô nhiễm, ở Việt Nam người ta vẫn chưa thống nhất được với nhau là ngành công nghiệp này có lợi hay có hại.
 
Nếu Việt Nam muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô một cách nghiêm túc, họ phải dừng ngay việc gây cản trở ngành công nghiệp này bằng việc đưa ra những chính sách thiếu tích cực như hiện nay. Họ phải có một nỗ lực rất lớn để có thể cạnh tranh được với Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, và thậm chí Hàn Quốc, bởi những nước này đang có lợi thế rất lớn là sản xuất qui mô lớn, hệ thống cung ứng lớn và máy móc đã khấu hao gần hết. Việt Nam không thể cứ máy móc đi theo họ, mà phải tìm được khe hở trong thị trường, tức là tìm ra sản phẩm nào đó mà các nước kia không sản xuất.
 
Ngay từ năm 1996, các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Nomura đã chỉ ra rằng hai sự lựa chọn cho Việt Nam. Thứ nhất, chọn một số loại phụ tùng nào đó mà Việt Nam có lợi thế phát triển, và cung ứng cho Toyota, hay Honda, hay Nissan, toàn cầu. Thứ hai, là tập trung chuyên sản xuất một chủng loại xe duy nhất nào đó mà chưa ai để ý. Thái Lan đã thành công với việc sản xuất loại xe pick-up, Indonesia với loại xe du lịch loại nhỏ, Ấn Độ chỉ tập trung sản xuất mini-car với giá rẻ... Trong khi đó, Nhật tập trung vào những chiếc xe hi-tech đắt tiền.
 
Sau hơn 10 năm, ông có nhận thấy sự chuyển biến trong tư duy của các nhà hoạch định ngành công nghiệp ô tô không?
 
Khi tôi mới sang đây, Hà Nội chỉ có một vài khách sạn tử tế và có ít ô tô chạy trên đường. Nay thì Hà Nội có rất nhiều khách sạn 5 sao, và ô tô chạy đầy đường. Nhưng dường như tư duy của các nhà hoạch định chính sách vẫn vậy. Cho đến giờ họ vẫn nói đến những thứ chung chung như phải đưa công nghệ vào, hay kích cỡ thị trường Việt Nam còn nhỏ… Và các cuộc gặp giữa các bộ với hiệp hội các nhà lắp ráp ô tô vẫn chỉ là những màn chỉ trích qua lại về khả năng phát triển của ngành này. Tất cả những điều trên chỉ giúp tôi ngày càng tin rằng phát triển ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam là chuyện cực kỳ khó khăn.     
 
Chính phủ Việt Nam có một tầm nhìn rất tham vọng đến 2020 là biến Việt Nam thành một nước công nghiệp hóa, có qui hoạch tổng thể, nhưng qui hoạch đó không được các doanh nghiệp, những người trực tiếp thực hiện, ủng hộ, hay nói cách khác thiếu tính khả thi. Qui hoạch tổng thể cho công nghiệp ô tô, công nghiệp phụ trợ, vì vậy, vẫn còn nằm trên giấy. Không thể nuôi hy vọng cho các nhà lắp ráp nhưng lại bằng cách cứ im lặng ngồi yên được.
 
Theo ông lý do tại sao đến giờ vẫn chưa có chuyển biến gì trong ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam?
 
Việt Nam phản ứng quá chậm. Ở các nước khác, khi có sự cố, các nhà hoạch định chính sách tập trung giới doanh nghiệp, các chuyên gia lại cùng bàn thảo, và cùng nhau đưa ra một gói giải pháp sau ít tháng. Họ cũng có thái độ nghiêm túc tương tự khi giải quyết những vấn đề liên quan đến sản xuất công nghiệp. Việt Nam nên làm như vậy để từ đó kịp thời đưa ra chính sách phù hợp.
 
Ông đã trao đổi những kinh nghiệm này với các cơ quan của Chính phủ Việt Nam?
 
Có chứ. Có lúc này lúc kia khi có điều kiện là tôi trao đổi nhưng thực sự là tôi chưa có dịp nào nói điều này với các lãnh đạo cấp cao. Người cao nhất tôi gặp mới là chỉ là một thứ trưởng Bộ Công thương thôi. Biết làm sao được!
Huỳnh Phan (thực hiện)

Đâu chỉ đơn giản là thất thoát tiền


Ngày 29.02.2008, 16:16 (GMT+7)
Đầu tư nhà nước thiếu hiệu quả:
Đâu chỉ đơn giản là thất thoát tiền
Cùng với nỗ lực đề ra nhiều biện pháp chống đỡ lạm phát, nếu như việc quản lý ngân sách của chính phủ tốt hơn, thì cũng góp phần không nhỏ vào những nỗ lực ấy
Theo báo cáo kiểm toán, số tiền chi sai mục đích trong chương trình mục tiêu về giáo dục đào tạo tới trên dưới 30 tỉ đồng. Nếu số tiền đó mà xây trường lớp, hỗ trợ học sinh nghèo, có phải nhiều em không phải bỏ học không. Sự lãng phí quá lớn.
Vào cuối quý 3 năm ngoái, khi chỉ số tiêu dùng tám tháng đã lên tới 6,8% so với đầu năm, một số chuyên gia đã cảnh báo chính phủ về nguy cơ lạm phát cao, và khuyến nghị cần xem xét lại chính sách tiền tệ, và cân nhắc việc giãn tiến độ giải ngân cho các công trình dự án nhà nước.
Chính phủ đã quyết định vẫn đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nhằm đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng ấn tượng 8,48%. Và cái giá phải trả là lạm phát lên tới mức kỷ lục 12,63%.
Đầu tháng 3 tới, trong chuyến công du châu Âu của mình, thủ tướng dự kiến sẽ gặp gỡ trao đổi với giới lãnh đạo ngân hàng để học hỏi về kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ. Nhất là trong bối cảnh lạm phát hai tháng đầu năm đã lên tới 6%.
Còn vấn đề thứ hai, kết quả kiểm toán vừa được công bố, tuy chưa đầy đủ bởi rất nhiều dự án đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa được kiểm toán, về sự thiếu hiệu quả của các dự án đầu tư nhà nước, đã cho thấy các chuyên gia đã có lý khi đưa ra khuyến nghị trên.
Sài Gòn Tiếp Thị xin lược đăng ý kiến của bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên ban Tư vấn của chính phủ.
Sai lầm từ khâu lập dự án
Lâu nay, những khoản đầu tư kém hiệu quả của Việt Nam đã được cảnh báo nhiều. Thậm chí, một số chuyên gia nước ngoài còn nhận định rằng, nếu đầu tư hiệu quả, chỉ số tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể tăng thêm 1 – 2%. Những con số kiểm toán nhà nước là những chứng minh rõ ràng nhất cho những cảnh báo, nhận định trên.
Nguyên nhân, qua kết quả bóc tách của kiểm toán, là bài toán đầu tư ngay từ đầu đã có khiếm khuyết, thậm chí sai lầm. Cụ thể là cách lập dự án không chặt chẽ, thể hiện sự tắc trách với tiền đóng thuế của dân và sự yếu kém của cả nơi lập dự án đầu tư, nơi thẩm định và cấp quyết định.
Điều này thể hiện cả ở những dự án tiến hành đúng tiến độ, không xảy ra thất thoát, hay sử dụng tiền sai mục đích, nhưng lại không hiệu quả khi hoàn thành, ít mang lại lợi ích cho người dân, cho xã hội.
Chẳng hạn, về nhiều địa phương thấy nhiều nhà văn hoá uy nghi, hoành tráng, nhưng đóng cửa để… chờ xin kinh phí sửa chữa, do xuống cấp sau ít năm. Trong khi đó, nếu chuyển số tiền đó sang làm bệnh viện trường học thì tốt biết bao.
Hay chẳng nói đâu xa, theo báo cáo kiểm toán số tiền chi sai mục đích trong chương trình mục tiêu về giáo dục đào tạo tới trên dưới 30 tỉ đồng. Nếu số tiền đó mà xây trường lớp, hỗ trợ học sinh nghèo, có phải nhiều em không phải bỏ học không. Sự lãng phí quá lớn.
Về điều hành vĩ mô, nhu cầu với một nước nghèo, thiếu thốn như nước ta, cái gì mà chả cần. Nhưng cái gì cần trước, cái gì cần sau, cần đến mức nào là hợp lý, là một chuyện phải hết sức cân nhắc, và vai trò điều hành vĩ mô nằm ở đây.
Sự bình quân chủ nghĩa hiện nay trong phân bổ đầu tư, xuất phát từ sự nể nang giữa các ngành, các địa phương, và, thậm chí giữa các vị lãnh đạo với nhau. Việc thẩm định cũng không dựa trên một cái chuẩn chung, dựa trên tiêu chí lớn nhất là hiệu quả đầu tư và đối tượng được thụ hưởng lợi ích. Đông đảo người dân, hay một nhóm nhỏ cần thành tích để báo cáo?
Thẩm định dự án nhà nước như dự án tư nhân
Theo tôi, để giảm thiểu những dự án đầu tư không hiệu quả của nhà nước, chúng cũng phải được thẩm định tương tự như các dự án của tư nhân, hay của nước ngoài. Chúng ta đòi hỏi họ phải có dự án khả thi, rồi kiểm toán độc lập để xác minh, sao với dự án nhà nước dễ vậy?
Các dự án nhà nước đầu tư vẫn chỉ được thẩm định trong phạm vi tương đối hẹp, và, theo quy trình, lệ thuộc rất nhiều vào chính bản thân nơi đề xuất. Tiếng nói các cơ quan khác rất yếu.
Hơn nữa, đều là các cơ quan nhà nước, đều có nhu cầu đầu tư nhiều, làm thẩm định cho nhau, họ rất dễ có tâm lý “ta dễ cho người, người dễ cho ta”. Không có một sự phản biện thực sự từ người dân, xét cho cùng, chính là người bỏ tiền và người thụ hưởng những công trình, dự án đó, tính khách quan và công minh không thể được đảm bảo.
Một câu hỏi đặt ra ở đây: trong khi nhà nước quản lý việc thực hiện các dự án đầu tư chưa tốt, quyết định đầu tư nhiều dự án sai, vậy có nên đẩy nhanh tốc độ giải ngân để đầu tư hay không?
Theo tôi, nếu những dự án mới được chứng minh có hiệu quả thì vẫn nên làm. Còn với những dự án đang thực hiện thiếu hiệu quả, thời gian đầu tư kéo dài, thì phải mạnh dạn thu hẹp lại, hoặc thậm chí dẹp bỏ đi. Biết dừng đúng lúc cũng là quan trọng.
Điều này nhà nước nên học tập ở doanh nghiệp, bởi khi thị trường có khó khăn là họ dừng ngay dự án để xem xét lại toàn bộ, trước khi quyết định đầu tư tiếp, hay chuyển sang lĩnh vực khác. Vừa rồi, TP.HCM có ra quyết định rà soát lại tất cả các dự án đầu tư là một việc làm rất cần thiết.
Huỳnh Phan (ghi)
Tâm lý sợ trách nhiệm, sợ thừa nhận mình sai, sợ phải phủ định lại quyết định của mình, âu cũng là một tâm lý thông thường. Nhưng, biết lỗi của mình, rồi biết sửa, cũng là một cách nâng uy tín của mình, hơn rất nhiều so với thấy sai rồi cứ lao theo, uy tín ngày càng giảm sút.
Chế tài của Việt Nam đối với vụ như thế này có cái dở là ít khi hồi tố. Vả lại, những quyết định mang tính tập thể, khó có thể quy kết trách nhiệm cho cá nhân. Rồi khi truy cứu trách nhiệm, người ta hay truy cứu trách nhiệm của những người thực hiện, mà ít khi truy cứu người thẩm định, người quyết định.

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Thu hoạch sớm, thiệt thòi sớm


Ngày 06.01.2010, 07:15 (GMT+7)
Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA)
Trước việc Chính phủ Indonesia, dưới sức ép mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, có thể sẽ quyết định hoãn việc thi hành một số điều khoản của hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), vì lo sợ những ngành như dệt may, da giày, sắt thép, của mình sẽ lâm vào cảnh khốn đốn dưới sức cạnh tranh của hàng giá rẻ của Trung Quốc tràn vào, khi thuế suất được đưa về mức 0% vào đầu năm nay, theo đúng lộ trình cam kết, Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi nhanh với các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp...
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Thu hoạch sớm, thiệt thòi sớm
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người đã có nhiều năm theo dõi, nghiên cứu về tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam và tác động của nó đối với doanh nghiệp, đánh giá về hành động của Indonesia:
Mối lo của Indonesia rất thực tế, và chính đáng nhằm bảo vệ cho các doanh nghiệp của họ. Từ góc độ nghiên cứu, tôi nghĩ chắc chắn nhà nước họ phải xem xét. Đối với những nước đang phát triển như Indonesia, Việt Nam, hay các thành viên ASEAN khác, hễ ngành nào còn tương đối có thị trường trong nước là y như rằng chịu sức ép cạnh tranh rất mạnh từ Trung Quốc.
Việt Nam có thêm năm năm để chuẩn bị cho ACFTA, nhưng tôi vẫn thấy không yên tâm. Do khủng hoảng kinh tế, xuất khẩu đã khó khăn hơn nhiều, nay miếng bánh ở thị trường nội địa lại có nguy cơ bị nhỏ lại bởi những hàng hoá giá rẻ từ Trung Quốc.
Với ACFTA, ngay từ khi thực hiện ở giai đoạn thu hoạch sớm, Việt Nam thiệt nhiều hơn lợi. Hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc, vốn đã quá ít so với hàng Trung Quốc bán sang Việt Nam, lại vẫn chủ yếu là những mặt hàng nguyên liệu thô.
Bà có nghĩ rằng chính do khủng hoảng kinh tế, những thị trường lớn như Mỹ, hay EU, bị thu hẹp lại, và nền kinh tế được coi là công xưởng thế giới buộc phải quyết liệt tìm những thị trường khác, như ASEAN, để bù lại?
Đúng vậy. Và bản thân họ cũng phải tự kiềm chế xuất khẩu một số hàng sang Mỹ, hoặc EU, như sắt thép, da giày, dệt may, nhằm tránh sự cạnh tranh trực diện có thể xảy ra, bởi những mặt hàng đó quá nhạy cảm về mặt lao động trong bối cảnh suy thoái. Dư thừa công suất của Trung Quốc chắc chắn sẽ tràn sang các thị trường khác như ASEAN. Nguyên bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, khi khủng hoảng xảy ra, đã nêu rằng khoảng 50 –70 tỉ USD giá trị hàng hóa của Trung Quốc đã được chuyển sẵn xuống miền nam Trung Quốc để chuẩn bị xuất xuống ASEAN.
Tại sao các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ này lại không lên tiếng mạnh mẽ với Chính phủ, như trường hợp của Indonesia?
Có một điều rất đáng tiếc là quá trình đàm phán thương mại của Việt Nam với các đối tác liên quan, ví dụ như với Trung Quốc, hầu như giới doanh nghiệp, một trong những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất, đều không được biết, không được mời tham vấn là nên mở cửa đến đâu, và với những sản phẩm nào. Còn hoạ chăng nếu có mời tham vấn, Chính phủ chỉ mời các doanh nghiệp lớn của Nhà nước, và trong nhiều trường hợp lợi ích của họ không phản ánh lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp nói chung.
Chẳng hạn, với chương trình thu hoạch sớm, với vài trăm mặt hàng giảm thuế hàng năm theo lộ trình, doanh nghiệp chỉ được biết vào đầu mỗi năm mới, khi bộ Tài chính công bố. Nếu họ được quyền tham vấn, có thể những cam kết của chúng ta đã thận trọng hơn.
Việc đàm phán ký kết, Chính phủ coi đó đó là việc riêng của mình, nên không tham vấn cộng đồng doanh nghiệp. Thậm chí, những cam kết đó còn được coi là tài liệu mật. Tôi nhớ mãi chuyện cách đây khoảng chục năm, khi Việt Nam và Mỹ hai bên hoàn tất hiệp định thương mại song phương, phía Mỹ thì đã công bố hết những cam kết lên mạng, còn ở Việt Nam trong văn bản của các bộ liên quan vẫn còn đóng dấu mật.
Ngoài chuyện bao biện của Nhà nước, tiếng nói của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam phải chăng quá yếu ớt so với các đồng nghiệp ở các nước khác…
Nếu nói nhiều hiệp hội doanh nghiệp là cánh tay nối dài của Nhà nước cũng chẳng oan cho họ đâu. Tình trạng hành chính hoá hoạt động của các hiệp hội này quá nặng nề. Các hiệp hội vẫn do các doanh nghiệp lớn, đa phần là quốc doanh, đứng chủ trò, và tiếng nói lợi ích của họ át đi tiếng nói lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hơn nữa, một loạt các vị quan chức về hưu được bổ nhiệm là chủ tịch các hiệp hội, và, ít hay nhiều, họ cũng mang theo cái phong cách hành chính của mình vào hiệp hội. Mối quan hệ quen biết với những người đương nhiệm khiến họ cũng có khi khó ăn khó nói. Rồi những gì mà doanh nghiệp thuộc hiệp hội đang phải oằn lưng ra gánh chịu có khi lại do những cam kết thiếu thận trọng của ông chủ tịch hồi đang còn làm quan chức chính phủ. Bây giờ phản bác lại nhân danh các các hội viên hoá ra lại tự phản bác lại mình à?
Ngoài hàng giá rẻ đang tràn sang Việt Nam, ngay cả đến hoa quả không an toàn mà Chính phủ Trung Quốc đã khuyến cáo dân họ không được ăn, cũng có nguy cơ tràn sang Việt Nam. Vậy, Chính phủ Việt Nam phải làm gì, chẳng hạn dùng những rào cản kỹ thuật, để bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng?
Cái khác của các nước khác so với Việt Nam là sau khi ký kết các hiệp định thương mại, bên cạnh việc mở cửa thị trường, họ cũng dựng lên các hàng rào kỹ thuật. Tự do hàng hoá càng mạnh, hàng rào kỹ thuật càng nhiều, bởi chẳng ai dại gì mở toang cửa nhà mình cho hàng hoá thiên hạ tràn vào rồi bóp chết các doanh nghiệp của mình.
Còn Việt Nam ta, khi thực hiện các cam kết mở cửa thị trường, tỏ ra khá nghiêm túc khi cắt giảm thuế quan, nhưng lại rộng lượng tới mức không dựng lên các hàng rào kỹ thuật tương ứng để bảo vệ “gà nhà” khỏi những cạnh tranh bất hợp lý và không lành mạnh từ bên ngoài. Chúng ta có pháp lệnh về quyền tự vệ, pháp lệnh về chống bán phá giá, nhưng trên thực tế những pháp lệnh đó gần như là không thiêng, chẳng ai chịu sử dụng. Theo dõi của tôi, mãi gần đây mới có hiệp hội Gốm xây dựng đang đề nghị Chính phủ điều tra về hàng vật liệu xây dựng của Trung Quốc có dấu hiệu bán phá giá trên thị trường Việt Nam.
Còn về vệ sinh an toàn thực phẩm, do hàng rào của mình quá yếu, các cơ quan có liên quan thường liếc nhau để chuyền quả bóng trách nhiệm.
Huỳnh Phan

Xem lại vai trò và cách thức can thiệp của Nhà nước


Ngày 04.01.2010, 07:15 (GMT+7)
Xem lại vai trò và cách thức can thiệp của Nhà nước
SGTT - Tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ, diễn ra vào đầu tháng 12.2009, giám đốc ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Victoria Kwakwa có khuyên Việt Nam nên đánh giá toàn diện lại chặng đường đổi mới đã qua, để từ đó xác định chặng đường đi tiếp như thế nào. Thực ra, trước đó bộ Kế hoạch và đầu tư đã bắt đầu chuẩn bị bản đánh giá này, và dự kiến sẽ trình Thủ tướng vào đầu tháng 2.2010. Dưới tiêu đề “Đề án tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế”, bản đánh giá này nhằm đóng góp cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020.
Sài Gòn Tiếp Thị có cuộc trao đổi với tiến sĩ Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện Quản lý kinh tế Trung ương, tổ phó tổ soạn thảo, xung quanh đề án này.
Xin ông cho biết đề án đề cập tới những vấn đề gì?
Trong phần nhìn nhận lại (chặng đường đổi mới đã qua), theo chúng tôi, cái không được lớn nhất là sự phân bổ nguồn lực, bao gồm đầu tư tiền bạc, tài nguyên, và nhân lực, chưa mấy hiệu quả. Trong việc phân bổ nguồn lực, Nhà nước được đánh giá dưới hai góc độ, là người quản trị phát triển chung và là ông chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước. Ở cả hai góc độ đó, đều có vấn đề rất lớn.
Theo tôi, trong giai đoạn tiếp theo, vai trò của Nhà nước vẫn rất lớn, và nằm ở ba điểm rất quan trọng. Thứ nhất, tạo dựng ra được những thể chế để thị trường vận hành hoàn hảo hơn, huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Thứ hai, phải thúc đẩy phát triển sáng tạo. Thứ ba là giảm thiểu rủi ro bất ổn vĩ mô, giải quyết được những vấn đề xã hội và môi trường.
Bản chất của đề án này là làm sao gạt bỏ những cản trở cho việc phân bổ nguồn lực có hiệu quả nhất cho phát triển bền vững, dưới cả góc độ môi trường và xã hội. Sự phân bổ có hiệu quả còn được nhìn dưới góc độ ngành, vùng và thành phần kinh tế. Như vậy, đề án này xoáy vào vai trò và cách thức can thiệp của Nhà nước, nhất là những cách thức can thiệp nhất thiết phải được thay đổi.
Sau khi xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, bắt đầu từ Mỹ, đây đó, kể cả ở cấp cao, có người cho rằng mô hình kinh tế thị trường tự do cũng chẳng ưu việt hơn mô hình lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo như Việt Nam, với sự can thiệp rất sâu của Nhà nước. Liệu suy nghĩ đó có thể dẫn đến chỗ cản trở quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam thành một nền kinh tế thị trường thực sự hay không?
Đúng là vẫn có những tư tưởng cho rằng khi kinh tế thị trường tự do thất bại, nên quay lại với sự can thiệp của Nhà nước theo cách cũ, tức là Nhà nước nắm giữ mọi nguồn lực, dùng nguồn lực đó để sản xuất, kinh doanh và đầu tư.
Quan điểm của tôi là phải nhìn dài hơn. Lịch sử phát triển của thế giới là lịch sử của nhiều thăng trầm, và một trong những biểu hiện đó là khủng hoảng. Không ai muốn khủng hoảng xảy ra, nhưng khủng hoảng, ngoài cái tiêu cực, cũng có cái tích cực. Bởi, sau đó, sự quản lý của Nhà nước và sự vận hành của nền kinh tế, cũng từ bài học đó, được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện hơn.
Hơn nữa, trong các cuộc khủng hoảng có thể thấy rõ thất bại của Nhà nước cũng phổ biến như thất bại thị trường. Trong cuộc khủng hoảng vừa rồi, thất bại của thị trường nằm ở chỗ hệ thống tài chính bất đối xứng thông tin với những điều chỉnh quá mức. Chẳng hạn người ta chấp nhận rủi ro quá lớn do ham hố lợi nhuận. Trong khi đó, thất bại của Nhà nước liên quan đến vai trò giám sát hệ thống tài chính.
Có một nhà kinh tế nước ngoài nghiên cứu sâu về Việt Nam đã nói vui tại một hội thảo: “Tôi xin tiết lộ cho các vị một thông tin tuyệt mật rằng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã đổi tên thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Hoa Kỳ, bởi nhà nước đã trở thành chủ sở hữu lớn nhất của các tập đoàn tài chính lớn nhất, và cả những tập đoàn sản xuất lớn, như General Motors”.
Thực ra, việc Chính quyền Mỹ bỏ hàng núi tiền vào các tập đoàn trên chỉ là sự can thiệp tạm thời để tránh sự đổ vỡ dây chuyền. Còn quan điểm của họ, về lâu về dài, là sẽ bán dần cổ phiếu, khi kinh tế đã có sự phục hồi. Và họ đã không bị lỗ như tính toán ban đầu, bởi chỉ số chứng khoán tăng lên.
Mục tiêu của Việt Nam là trở thành một nước thu nhập trung bình vào năm 2020. Vậy việc Việt Nam được coi là đạt mức thu nhập GDP bình quân đầu người 1.000 USD/năm vào năm 2010 này có ý nghĩa gì không?
Việt Nam vượt qua ngưỡng các quốc gia nghèo, và bắt đầu chuyển sang mức thu nhập trung bình, nhưng ở mức rất thấp. Con số đó, quan trọng hơn, đã đánh dấu rằng con đường chúng ta đang đi cũng có những thành công nhất định, sau một chặng đường dài đổi mới.
Nhưng, mặt khác, đây cũng là cái mốc cảnh báo chúng ta rằng, mới ở mức 1.000 USD/năm, khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam đã rất lớn. Như vậy, sau mười năm tới khoảng cách này có giãn thêm nữa không, đến mức nào? Bởi, khoảng cách giãn ra này không chỉ thể hiện sự bất bình đẳng về thu nhập, mà có khi còn thể hiện sự bất công, có khi dẫn đến bất ổn xã hội.
Trong kinh tế thị trường có bất bình đẳng tốt và bất bình đẳng xấu. Cái bất bình đẳng tốt, tạo động lực cho sáng tạo, là trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thông tin đầy đủ, không có ai chèn ép được ai, không có ai thao túng được giá cả, thị trường trả cho người giỏi cao hơn, thậm chí rất, rất cao.
Còn cái bất bình đẳng xấu được thể hiện dưới hai góc độ. Thứ nhất, sự tiếp cận cơ hội không bình đẳng, bị méo mó bởi quan hệ hay định kiến xã hội. Chẳng hạn, sự phân biệt đối xử liên quan đến giới, hay tầng lớp xuất thân, như giữa con ông cháu cha và con phó thường dân… Thứ hai, bất bình đẳng do tham nhũng gắn với lạm dụng quyền lực của bộ máy nhà nước.
Ở Việt Nam, cũng như trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu về người nghèo, và khoảng 4 – 5 năm trở lại đây, đã có những nghiên cứu về tầng lớp trung lưu. Nhưng không hề có nghiên cứu bài bản về người giàu, mà thảng hoặc chỉ có các con số thống kê về thu nhập, tài sản, hay những câu chuyện cụ thể.
Theo tôi, nghiên cứu người giàu, cùng với người nghèo và trung lưu, đều là những giai tầng của xã hội, được gắn với sự phát triển theo nghĩa rộng nhất. Hơn nữa, nhờ đó mà chúng ta tìm ra được bản chất thật của khoảng cách trong phát triển giữa các tầng lớp khác nhau.
Ngay trong chính sách, có những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo. Nhưng lại cũng có những chính sách hỗ trợ người giàu, vì cho rằng họ biết cách làm ăn hiệu quả, và qua đó tạo việc làm, nộp thuế nhiều để Chính phủ quay lại hỗ trợ cho người nghèo.
Trung Quốc là một ví dụ. Họ đã ưu tiên doanh nhân, ưu tiên phát triển khu vực có ưu thế so sánh lớn hơn là phía bờ đông. Nhưng họ chưa hẳn đã thành công. Những bất ổn gần đây của họ là do chưa điều hoà được chuyện đó, do sự giàu lên quá nhanh của một tầng lớp, một khu vực, trong khi sự lan toả cần thiết cho khu vực kia lại quá chậm. Người chịu thiệt thòi cảm thấy chính sách của chính phủ bất công với họ.
Huỳnh Phan (thực hiện)
Kết hợp chặt chẽ chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, ngăn ngừa lạm phát và giảm nhập siêu
Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định xã hội và phát triển bền vững. Nguyên tắc cơ bản của điều hành kinh tế vĩ mô là phải tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, kết hợp chặt chẽ chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ và giữa các công cụ của chính sách tiền tệ; xử lý phù hợp mối quan hệ giữa lãi suất tín dụng với tỷ giá và cán cân thanh toán quốc tế, đặc biệt là cán cân thương mại; quản lý tốt thị trường ngoại hối và nợ quốc gia; bảo đảm vốn và tính thanh khoản cho nền kinh tế; phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi; thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng, ngăn ngừa lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, ngân hàng.
Phải phát huy tốt hơn vai trò điều tiết của Nhà nước, nhất là một nước đang trong quá trình chuyển đổi như nước ta, khi mà cơ chế thị trường chưa hình thành đồng bộ, các cân đối của nền kinh tế chưa thật vững chắc và môi trường cạnh tranh vẫn còn khiếm khuyết. Nhà nước can thiệp vào thị trường là để các quy luật của kinh tế thị trường được vận hành theo đúng mục tiêu mà không làm méo mó các quan hệ thị trường và để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Khi sử dụng các công cụ điều tiết phải hết sức chú ý đến mức độ và thời gian để đạt hiệu quả cao và chi phí thấp. Phải lường trước các phản ứng của thị trường, nếu các phản ứng này có nguy cơ làm sai lệch những cân bằng cơ bản và gây mất ổn định kinh tế vĩ mô thì nhất thiết phải được điều chỉnh kịp thời.[…]
Đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại là một trong những cân đối quan trọng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng. Mặc dù còn có những khó khăn do kinh tế thế giới phục hồi chậm nhưng tình hình là thuận lợi hơn năm 2009.
(Trích bài viết đầu năm gởi các cơ quan báo chí của Thủ tướngNguyễn Tấn Dũng)

Thành tựu, con số và câu chuyện giảm nghèo


Ngày 08.12.2009, 09:36 (GMT+7)
Thành tựu, con số và câu chuyện giảm nghèo
SGTT - Theo công bố của Chính phủ với các nhà tài trợ, trong năm 2009 đầy khó khăn này, 1% các hộ gia đình ở Việt Nam dự kiến sẽ thoát nghèo. Như vậy, sau gần bốn năm của nhiệm kỳ thủ tướng đương nhiệm, Việt Nam đã đạt được một sự bứt phá đáng kinh ngạc trong sự nghiệp giảm nghèo, khi tỷ lệ hộ nghèo giảm 9% từ mức 20% vào thời điểm cuối năm 2005.
Tuy nhiên, nhìn kỹ đằng sau thành tựu giảm nghèo người ta lại nhìn thấy những con số và những câu chuyện khác.
Hai câu chuyện thoát nghèo
Ông Nguyễn Văn Thắng, 42 tuổi, quê xã Tân Thành, huyện Kim Sơn, Ninh Bình, được xếp vào diện nghèo, do ông đau ốm từ lâu, và thu nhập gia đình chủ yếu dựa vào tiền công đan chiếu cói của bà vợ và cô con gái đầu lòng. “Trồng lúa chủ yếu để có gạo mà ăn, chứ nếu tính đầy đủ hầu như chẳng có mấy lãi, do giá lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu, hay thuê cày bừa, ngày càng tăng”, ông Thắng nói.
Nhưng thấy những trợ cấp của Nhà nước không đủ thuốc thang cho cha, và đảm bảo tiền học hành cho mình, hai cô con gái sau của ông lần lượt nghỉ học, sau khi học hết lớp 9, để phụ mẹ đan cói. “Bốn mẹ con cháu đổ đồng mỗi ngày kiếm được 60 ngàn đồng, cả tháng được ngót nghét 2 triệu. Trừ tiền thuốc thang cho tôi, gia đình tôi với năm khẩu đã được xếp lên diện cận nghèo”, ông hồ hởi khoe với phóng viên SGTT.
Trong khi đó, hộ bà Nguyễn Thị Lụa, cùng xóm với ông Thắng, lại được đưa ra khỏi danh sách nghèo theo một cách khác. Bà kể rằng mỗi ngày bà kiếm được khoảng 8 ngàn đồng tiền công đan sọt, cô con dâu kiếm gấp rưỡi, còn anh con trai trong làng ai thuê thì làm, còn không thì đi đánh giậm kiếm thêm con cua, con cá cho bữa ăn có thêm dinh dưỡng. Theo bà, hồi đầu năm nay, khi lập danh sách ở xã người ta đã đưa gia đình bà, gồm năm người kể cả hai đứa cháu nội, vào diện nghèo. Nhưng sau đó ra bình bầu, gia đình bà lại được chuyển sang danh sách cận nghèo.
“Mình tuy nghèo, nhưng có những người còn nghèo hơn, để người ta hưởng trợ cấp trước. Cùng bà con làng xóm cả, tranh cãi làm gì. Thế nào chẳng đến lượt”, bà lão giáo dân đã hơn 70 tuổi, vừa vòng một cánh tay ra sau đấm lưng, vừa thủng thẳng nói.
Một thành viên ban lãnh đạo xã Tân Thành, giấu tên, giải thích: “Huyện bảo năm ngoái, tỷ lệ hộ nghèo ở xã là 11%, năm nay phải phấn đấu đưa xuống dưới 10%. Chúng tôi đành chọn con số 9,9%, tính ra số hộ, rồi để họ tự bình bầu với nhau”.
Các con số nói gì?
Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008, được tiến hành cùng với tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới (WB) nhận xét rằng Việt Nam tiếp tục đạt được tiến bộ trong lĩnh vực giảm nghèo, tuy có sự khác biệt về phương pháp tính toán giữa tổ chức này và Chính phủ. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2008, theo WB, là 14%, so với 12%, theo Chính phủ.
Ông Martin Rama, chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Hà Nội, đồng ý rằng, bên cạnh những nỗ lực đáng khen ngợi của Chính phủ, việc Việt Nam giữ nguyên chuẩn nghèo suốt mấy năm vừa qua, bất chấp tỷ lệ lạm phát từng năm khá cao, là một trong nguyên nhân đạt được thành tích trên. Theo quyết định 170 của Thủ tướng Chính phủ, ký ngày 8.7.2005, chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 là 200 ngàn đồng/người/tháng ở nông thôn và 260 ngàn đồng/người/tháng ở thành thị. Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng 2006, 2007, 2008 và (dự kiến) 2009 lần lượt tăng 6,6%, 12,6%, 23% và (dự kiến) 6%.
Không phải chính phủ không nghĩ tới chuyện này. Hồi tháng 7.2008, thời điểm diễn ra hội nghị ban chấp hành Trung ương, trong đó có bàn về nông dân (chiếm tỷ lệ nghèo nhiều nhất), chính Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo bộ Lao động – thương binh – xã hội lập phương án điều chỉnh chuẩn nghèo, áp dụng cho giai đoạn 2009 – 2010. Năm tháng sau, bộ này đã trình Thủ tướng phương án nâng chuẩn nghèo lên 50% so với chuẩn nghèo 2005.
Tuy nhiên, phương án này đã không được phê duyệt, và một trong những nguyên nhân, theo các chuyên gia, là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và ưu tiên cần dành cho những đối tượng khác. Theo ông Nguyễn Quang Thắng, vụ trưởng Lao động, văn hoá và xã hội, bộ Kế hoạch – đầu tư, số hộ thuộc diện cận nghèo (cao hơn chuẩn nghèo đang áp dụng và dưới chuẩn nghèo theo đề nghị điều chỉnh) là hơn một triệu.
Liên quan đến tỷ lệ nghèo theo chuẩn hiện tại, ông Thắng lại nhấn mạnh đến một thách thức rất đáng quan tâm (mà Trung Quốc đã mắc phải và đang chịu những hệ luỵ). Đó là nghèo hiện nay không còn là hiện tượng dàn trải trên diện rộng mà tập trung ở những địa bàn, những nhóm nhất định, chủ yếu là ở khu vực người dân tộc thiểu số sinh sống. “Có những nơi họ chiếm tới 95%, thậm chí 100%, số hộ nghèo”, ông Thắng nói.
WB cũng chia sẻ nhận định này, dựa trên những điều tra riêng của mình. “Báo cáo điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008 cho thấy tiến bộ trong việc giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số là rất khiêm tốn. Tỷ lệ nghèo đói chỉ giảm từ 52,3% năm 2006 xuống 49,8% năm 2008, so với tốc độ giảm nghèo ở người Kinh và người Hoa (từ 10,3% xuống 8,5%)”, báo cáo của các chuyên gia WB viết.
Hành động của Chính phủ
Thay vì điều chỉnh chuẩn nghèo nói chung, cuối tháng 12 năm 2008, Thủ tướng đã ký nghị quyết 30a về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 (nay là 62 do chia tách) huyện nghèo nhất nước. Gói giải pháp bao gồm các chính sách cụ thể về hỗ trợ sản xuất, dưới hình thức tiền, hỗ trợ lãi suất tín dụng, hay gạo, để tạo việc làm, tăng thu nhập. Những thanh niên dân tộc, chưa một lần đặt chân tới các thành phố, thậm chí cũng được định hướng học nghề và ngoại ngữ để sang lao động ở các nước phát triển cao như Nhật Bản, hay Hàn Quốc.
Bộ trưởng Lao động Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đã cam kết với các nhà tài trợ rằng trong năm tới, chuẩn nghèo mới sẽ được xây dựng cho thời kỳ 2011 – 2015, tương ứng với nhiệm kỳ của một Chính phủ mới. “Với chuẩn nghèo mới, không hẳn là tỷ lệ nghèo ắt phải tăng lên lại, nhưng, chắc chắn, sẽ có rất nhiều việc cho Chính phủ trong thời kỳ đó”, giám đốc WB tại Việt Nam Victoria Kwakwa nhận xét.
Huỳnh Phan